Chấn chỉnh hệ thống kế toán quản trị doanh nghiệp – Nhu cầu bức xúc trong nền kinh tế thị trường

26 07 2011

Ngày nay, kế toán đã trở thành một trong những công cụ đắc lực nhất cho các nhà quản trị doanh nghiệp. Sản phẩm cuối cùng của chu trình kế toán là hệ thống báo cáo kế toán của doanh nghiệp. Bởi vậy, thông tin kế toán trước hết được biểu hiện ở hệ thống báo cáo kế toán.

Hệ thống báo cáo kế toán của doanh nghiệp được chia thành 2 loại: Báo cáo kế toán tài chính và báo cáo kế toán quản trị.

Báo cáo kế toán tài chính là loại báo cáo kế toán phản ánh một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nó cung cấp những thông tin chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như: các nhà đầu tư, các nhà cho vay, các cơ quan quản lý vốn, các cơ quan thuế, thống kê, … và cho các nhà quản trị doanh nghiệp để nhận biết, đánh giá và phân tích tình hình tài chính cũng như kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Hệ thống báo cáo kế toán tài chính được Nhà nước quy định có tính chất bắt buộc về mẫu biểu, nội dung, phương pháp lập, đối tượng, phạm vi áp dụng và thời hạn nộp báo cáo. Nó bao gồm:

– Bảng cân đối kế toán

– Báo cáo kết quả kinh doanh

– Bảng lưu chuyển tiền tệ

– Bảng thuyết minh báo cáo tài chính

Trong khi đó, báo cáo kế toán quản trị nhằm phản ánh một cách chi tiết, cụ thể tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Hệ thống báo cáo kế toán quản trị được lập đơn giản hay chi tiết, toàn diện hay từng bộ phận, từng phần là tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý cụ thể của các nhà quản trị doanh nghiệp.

Hệ thống báo cáo kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin chủ yếu, cần thiết và hết sức cụ thể cho các nhà quản trị doanh nghiệp. Những thông tin này giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và xu hướng phát triển của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đề ra những quyết định đúng đắn trong quản lý sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.

Như vậy, khác với hệ thống báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị nhằm phục vụ cho các nhà quản trị doanh nghiệp, không cung cấp cho các đối tượng ngoài doanh nghiệp. Nó được lập theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp nên nội dung, các chỉ tiêu trên báo cáo giữa các doanh nghiệp cũng không hoàn toàn giống nhau.

Trên thực tế cho thấy, trong thời gian vừa qua, báo cáo kế toán thường được các doanh nghiệp chú ý nhiều, vì theo tư tưởng phải đối phó với các cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan quản lý Nhà nước. Trong khi đó, báo cáo kế toán quản trị lại thường bị coi nhẹ và phổ biến là làm chiếu lệ, mà thực chất nó lại rất quan trọng.

Thông thường, hệ thống báo cáo kế toán quản trị của các doanh nghiệp bao gồm các loại sau đây:

– Báo cáo chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ (chi tiết cho từng đối tượng tính giá, chi tiết theo khoản mục phí, chi tiết theo từng bộ phận …)

– Báo cáo doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh (chi tiết cho từng bộ phận phụ thuộc, theo từng hợp đồng, theo từng loại mặt hàng, hoặc theo từng nhóm mặt hàng …).

– Báo cáo chi tiết tăng giảm nguồn vốn.

– Báo cáo chi tiết tăng giảm tài sản.

– Báo cáo chi tiết các tăng giảm phải thu (theo từng đối tượng, thời hạn thanh toán…).

– Báo cáo chi tiết hàng tồn kho (số lượng, chủng loại, đơn giá, ….).

– Báo cáo chi tiết các khoản phải trả (cho từng đối tượng, thời hạn thanh toán ….).

– Báo cáo chi tiết các khoản phải nộp ngân sách (thuế giá trị gia tăng, thuế quyền sử dụng đất, thuế thu nhập doanh nghiệp…).

– Báo cáo chi tiết về lợi nhuận (theo từng hoạt động, từng bộ phận …).

– Các báo cáo chi tiết khác phục vụ cho nhu cầu quản lý của quản trị doanh nghiệp.

Cơ sở số liệu để lập các báo cáo kế toán là các sổ sách kế toán tổng hợp và chi tiết có liên quan đến đối tượng cần lập báo cáo kế toán. ở đây sẽ đi sâu vào việc phân tích các báo cáo kế toán của doanh nghiệp. Nội dung của phân tích gồm:

– So sánh giữa thực tế với kế hoạch để đánh giá chung tình hình hoàn thành kế hoạch các chỉ tiêu (kể cả số tuyệt đối và số tương đối).

– So sánh giữa thực tế với các kỳ kinh doanh trước để thấy được tốc độ tăng trưởng (hoặc là giảm bớt) các chỉ tiêu.

– Phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên từng báo cáo kế toán hoặc giữa các báo cáo kế toán của doanh nghiệp, nhằm phát hiện các khả năng tiềm tàng cần được huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Ngoài các phương pháp phân tích truyền thống, kế toán quản trị còn áp dụng phương pháp đặc thù trong việc thu thập, xử lý, thiết kế, truyền đạt thông tin hữu ích nhằm giúp cho các doanh nghiệp thực hiện tốt các chức năng lập kế hoạch, kiểm tra, đánh giá và ra các quyết định trong quản lý doanh nghiệp, đảm bảo cho sự tồn tại vững  chắc và phát triển liên tục của doanh nghiệp.

Trong kế toán quản trị, chi phí thường được phân loại theo nhiều phương pháp khác nhau. Chẳng hạn:

– Phân loại chi phí để đánh giá hàng tồn kho và đo lường lợi nhuận.

– Phân loại chi phí để ra quyết định trong kinh doanh.

– Phân loại chi phí để kiểm tra chi phí.

Tuỳ theo mục đích của từng nhà quản trị doanh nghiệp, chi phí có thể được lựa chọn theo từng phương pháp phân loại khác nhau. Thông thường, các loại chi phí phát sinh và cách phân loại chi phí phụ thuộc vào loại hình tổ chức doanh nghiệp. Do vậy, thấu hiểu cách phân loại và ứng xử của từng loại chi phí là chìa khoá đưa ra những quyết định đúng đắn trong quá trình tổ chức, đIều hành hoạt động kinh doanh của các nhà quản trị doanh nghiệp.

Kế toán quản trị còn phân tích các mối quan hệ giữa khối lượng, chi phí và lợi nhuận. Đây là mối quan hệ nội tại giữa các nhân tố trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vậy, việc phân tích mối quan hệ này không chỉ giúp cho việc lựa chọn dây chuyền sản xuất, định giá bán sản phẩm, xác đinh chiến lược tiêu thụ sản phẩm, xác định trình độ sử dụng năng lực sản xuất, mà còn là một công cụ tốt nhất của quản trị doanh nghiệp, nhằm khai thác có hiệu quả nhất mọi khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp, góp phần không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Ngoài ra, kế toán còn cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp những thông tin kế toán cần thiết về dự toán sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là một bộ phận đặc biệt quan trọng không thể thiếu được trong điều hành sản xuất kinh doanh của quản trị doanh nghiệp.

Hệ thống dự toán sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Dự toán về tiêu thụ sản phẩm, dự toán về sản xuất sản phẩm, dự toán về chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán về chi phí nhân công trực tiếp, dự toán về chi phí sản xuất chung, dự toán về chi phí bán hàng, dự toán về chi phí quản lý doanh nghiệp.

Trên cơ sở phân tích hệ thống báo cáo kế toán, ta sẽ có được những thông tin hữu ích, giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp thường xuyên xác định được những nhân tố tích cực để phát huy ảnh hưởng và hạn chế những nhân tố tiêu cực có tác động xấu đến kết quả kinh doanh cuả doanh nghiệp. Qua đó, kiến nghị những biện pháp sát thực nhằm đưa các quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiếp cận được những mục tiêu đã định.

Xuất phát từ  ý nghĩa trên cho thấy, bất luận trong trường hợp nào, cho dù nhà quản trị doanh nghiệp có tài giỏi đến mấy đi chăng nữa, nhưng nếu không có và không dựa vào hệ thống thông tin kế toán – chìa khoá vàng của sự thành công thì không thể điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt kết quả tốt được.

Xuất phát từ tầm quan trọng của thông tin kế toán trong hệ thống quản lý doanh nghiệp năm 2001, chúng tôi đã đi khảo sát tại một số doanh nghiệp sản xuất để lập dự toán sản xuất kinh doanh cho năm 2002. Dưới đây là minh họa kết quả lập dự toán sản xuất kinh doanh tại một công ty cổ phần năm 2002 như sau:

A. Cơ sở để lập dự toán sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp năm 2002 dựa theo những tàI liệu sau đây:

– Dự tính khối lượng sản phẩm của công ty tiêu thụ cả năm 2002 là 150.000 sản phẩm, được chia ra các quý trong năm:

Quí I:    15.000 sản phẩm

Quí II:    45.000 sản phẩm

Quí III:    60.000 sản phẩm

Quí IV:    30.000 sản phẩm

– Bảng tổng hợp định mức chi phí tiêu chuẩn

Khoản mục chi phí

Số lượng cho 1 đơn vị sản phẩm

Đơn giá cho một đơn vị chi phí (đ)

Chi phí sản xuất cho 1 đơn vị sản phẩm (đ)

1. NVL trực tiếp

2,5 kg

2.000đ/kg

5.000đ/ sản phẩm

2. Nhân công trực tiếp

3h

6.000đ/h

18.000đ/sản phẩm

3. Biến phí sản xuất chung

3h

1.500đ/h

4.500đ/sản phẩm

4. Định phí sản xuất chung

3h

3.500đ/h

10.500đ/sản phẩm

5. Chi phí sản xuất chung một đơn vị sản phẩm

 

 

38.000đ/sản phẩm

 

– Giá bán một đơn vị sản phẩm dự kiến sẽ là 50.000đ/sản phẩm

– Dự kiến doanh thu bán hàng thu được tiền ngay trong quí là 60%, số còn lại sẽ thu ở quý sau. Số tiền phải thu ở quí IV năm 2001 chuyển sang theo sổ sách kế toán là 200 triệu đồng.

– Số thành phẩm cần dự trữ cuối kỳ bằng 20% số thành phẩm cần bán trong kỳ kế tiếp. Số thành phẩm tồn kho cuối kỳ quí IV/2002 là 3.000 sản phẩm.

– Nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu cuối kỳ bằng 5% số nhu cầu để sản xuất cho quí sau. Số nguyên vật liệu tồn kho cuối qúi IV/2002 dự tính sẽ là 3.000kg.

– Số tiền thanh toán cho nhà cung cấp thông thường trả ngay 60% trong quí, 40% còn lại sẽ thanh toán ở quí sau.

b. Căn cứ vào tài liệu trên lập dự toán cho sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần năm 2002 như sau:

1. Lập dự toán doanh thu và dự kiến số tiền thu được năm 2002.

Đơn vị tính: 1000đ

Chỉ tiêu

Quí I

Quí II

Quí III

Quí IV

Cả năm

1. Số lượng sản phẩm tiêu thụ

15.000

45.000

60.000

30.000

150.000

2. Giá bán đơn vị sản phẩm

50

50

50

50

50

3. Doanh thu tiêu thụ

750.000

2.250.000

3.000.000

1.500.000

7.500.000

 

2. Lập lịch thanh toán tiền với người mua năm 2002

Đơn vị tính: 1000đ

Chỉ tiêu

Quí I

Quí II

Quí III

Quí IV

Cả năm

Các khoản phải thu

– Quí IV năm trước chuyển sang

– Quí I

– Quí II

– Quí III

– Quí IV

 

200.000

450.000

 

 

300.000

1.350.000

 

 

 

900.000

1.800.000

 

 

 

 

1.200.000

900.000

 

200.000

750.000

2.250.000

3.000.000

900.000

 

650.000

1.650.000

2.700.000

2.100.000

7.100.000

 

3. Lập dự toán sản xuất sản phẩm năm 2002

Đơn vị tính: sản phẩm

Chỉ tiêu

Quí I

Quí II

Quí III

Quí IV

Cả năm

1. Số lượng sản phẩm tiêu thụ

15.000

45.000

60.000

30.000

150.000

2. Thành phẩm tồn kho cuối kỳ

9.000

12.000

6.000

3.000

3.000

3. Tổng nhu cầu sản phẩm

24.000

57.000

66.000

33.000

153.000

4. Sản phẩm tồn kho đầu kỳ

3.000

9.000

12.000

6.000

3.000

5. Khối lượng sản phẩm cần sản xuất trong kỳ

21.000

48.000

54.000

27.000

150.000

4. Lập lịch thanh toán tiền với nhà cung cấp NVL năm 2002

Đơn vị tính: 1000đ

Chỉ tiêu

Quí I

Quí II

Quí III

Quí IV

Cả năm

1. Khoản phải trả năm trước chuyển sang

132.000

 

 

 

132.000

2. Quí I

67.050

44.700

 

 

111.000

3. Quí II

 

144.900

96.600

 

241.500

4. Quí III

 

 

157.950

105.300

263.250

5. Quí IV

 

 

 

80.550

80.550

Tổng cộng

199.050

189.600

254.550

185.850

829.050

 

5. Lập dự toán thành phẩm tồn kho cuối kỳ năm 2002

1. Số lượng sản phẩm tồn kho quí IV:             3.000 sản phẩm     

2. Chi phí sản xuất 1 đơn vị sản phẩm:        38.000đ

     (Xác định theo phương pháp chi phí toàn bộ)

3. Giá trị thành phẩm tồn kho cuối quí IV:

3.000 x 38.000 = 114.000.000 đ

Kết quả lập dự toán ở trên sẽ giúp cho quản trị doanh nghiệp có thể chủ động trong mọi tình huống của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp./.


Hành động

Information

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s




%d bloggers like this: