“Ngày thứ Ba đen tối” năm 1929 ở Wall Street

18 11 2008

Diễn
biến của cuộc khủng hoảng trên thị trường tài chính Mỹ và thế giới
những ngày này không khỏi làm người ta nhớ lại và so sánh với cuộc
khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất diễn ra cách đây 79 năm, được đánh
dấu bởi ngày thứ Ba đen tối 29-10…

Không dấu hiệu báo trước

Không
gì báo hiệu rằng 1929 sẽ là một năm ảm đạm. Trong bài diễn văn cuối
cùng trước khi mãn nhiệm, ngưới đứng đầu Nhà Trắng lúc bấy giờ Calvin
Coolidge nói: “Tôi đánh giá hiện tại với sự hài lòng và nhìn tương lai
với sự lạc quan”. Một tháng trước đó, ứng cử viên Herbert Hoover, cũng
thuộc đảng Cộng hòa, đã trúng cử tổng thống.

Rất nhiều người
trách cứ các ông Coolidge và Hoover là đã không nhìn thấy điều đang xảy
đến. Trên thực tế, trong những năm 1920, nước Mỹ giàu lên trông thấy.
Lấy ví dụ ngành xe hơi, năm 1926, nước Mỹ chế tạo được 4,3 triệu chiếc;
năm 1929 con số này là 5,3 triệu.

Kinh tế tăng trưởng nuôi dưỡng
lòng tin tưởng. Đồng thời cũng là chất men gây nên cơn sốt đầu cơ. Năm
1927 có 577 triệu cổ phiếu được “sang tay” ở thị trường chứng khoán New
York; năm 1928, 920 triệu. Cùng trong thời gian này, mệnh giá các loại
cổ phiếu tăng như tên bắn. Riêng trong mùa hè 1929, giá một số loại cổ
phiếu tăng tới 25%.

Cổ phiếu thi nhau tăng giá tới mức dường
như không gì có thể đảo ngược được xu thế. Dẫu vậy, tháng 9, thị trường
bắt đầu có biểu hiện “hụt hơi”. Việc Clarence Harty, doanh nhân người
Anh, bị phá sản đã là sự kiện “châm ngòi”. Tất cả sụp đổ trong ngày
24-10.

Trong ngày thứ Năm ấy, 6 triệu cổ
phiếu bị rao bán, là điều chưa từng thấy. Giá giảm liên tục suốt buổi
sáng. Người ta kinh hoàng đổ dồn tới Wall Street. Tới trưa đã có 11 vụ
tự tử. Tại trụ sở Ngân hàng J.P. Morgan đối diện tòa nhà thị trường
chứng khoán, nửa tá lãnh đạo các ngân hàng lớn họp gấp, quyết định cứu
vãn thị trường bằng việc mua lại một số lượng lớn các cổ phiếu chiến
lược. Việc làm này có hiệu quả tức thì.

Vào cuối ngày, một số cổ phiếu
thậm chí còn tăng giá so với ngày hôm trước. Nhưng cũng chẳng được bao
lâu. Niềm tin của cổ đông đã bị “khai tử”. Mặc cho các công ty kinh
doanh chứng khoán ra sức thuyết phục mọi người rằng đây đang là thời
điểm tốt nhất để mua vào.

Thứ Hai 28-10, 9 triệu cổ phiếu
bị “tống” ra. Thứ Ba 29-10, 16 triệu cổ phiếu. Ngày này đã đi vào lịch
sử với cái tên “Ngày thứ Ba đen tối”. Lần này, các ngân hàng không can
thiệp nữa. Chẳng còn gì ngăn được cơn thoái trào. Giữa tháng 11, chỉ số
Dow Jones mất 51% số điểm so với hồi tháng 9. Các cổ phiếu theo nhau
rớt giá liên tục trong suốt 3 năm tiếp đó…

Trái bóng căng hơi nổ tung

Đại
suy thoái 1929 cũng chính là sự bùng nổ của trái bóng đầu cơ đã quá
căng hơi. “Trái bóng” này được tạo nên phần lớn do các khoản tín dụng
cho vay theo ngày (call loan), có cơ cấu vận hành rất đơn giản: Người
mua chỉ phải trả một phần giá trị của cổ phiếu mà anh ta mua (đôi khi
chỉ 10%), phần còn lại được công ty kinh doanh chứng khoán “vay giùm” ở
ngân hàng.

“Call loan” quả là một công cụ tuyệt vời để khuyến
khích sự đầu cơ, mở cửa thị trường chứng khoán cho cả những người khiêm
tốn nhất. Năm 1929, cứ 100 người Mỹ thì có 1 người tham gia thị trường
chứng khoán. Thế mà hệ thống này vốn không thể “đứng” được nếu cổ phiếu
xuống giá.

Khi giá một loại cổ phiếu bị
giảm, công ty kinh doanh chứng khoán yêu cầu khách hàng của mình trả
thêm một khoản tiền để “bồi thường” phần giảm này. Nếu người mua không
trả được, cổ phiếu của anh ta bị đẩy ra thị trường. Đó là điều đã xảy
ra vào mùa thu năm 1929 ở Wall Street. Các công ty kinh doanh chứng
khoán nôn nóng thanh toán các cổ phiếu như thế. Thường là với giá hạ,
tức bị lỗ. Còn khách hàng của họ thì phá sản.

Bắt đầu cái vòng
xoáy nghiệt ngã. Sự phá sản của các công ty kinh doanh chứng khoán đẩy
các nhà băng – vốn là chủ nợ, lâm vào cảnh lụn bại. Từ 1929 tới 1931 có
4.300 ngân hàng phải đóng cửa. Hàng triệu người mất trắng khoản tiền
bao lâu dành dụm được của họ chỉ trong một ngày.

Sức mua giảm, nhu cầu giảm, khiến
cho hoạt động của các ngành sản xuất kinh tế cũng đình trệ. 4 triệu
người Mỹ thất nghiệp trong năm 1930, 8 triệu năm 1931, 12 triệu năm
1932. Mức độ sâu rộng trên đất Mỹ không chỉ là đặc điểm duy nhất của
cuộc khủng hoảng này, mà chính là ảnh hưởng không thể lường hết của nó
đối với phần còn lại của thế giới.

Khủng hoảng tài chính và khủng hoảng kinh tế

Trong
thời gian diễn ra cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, nước Mỹ trở
thành chủ nợ của nhiều nước khác trên thế giới. Khi nước Mỹ “hồi hương”
tiền cho mượn, nhiều ngân hàng lớn ở châu Âu, đặc biệt là ở Đức và Áo,
bị phá sản. Kinh tế thế giới suy thoái bắt đầu từ những năm 1930-1931
do “hiệu ứng domino” của cuộc khủng hoảng ở Wall Street.

Với 2 hệ lụy: Thứ nhất, từ bỏ
vàng như là vật bảo chứng của tiền tệ, làm suy yếu hệ thống tiền tệ thế
giới; thứ hai, sản xuất công nghiệp suy giảm làm cho các hoạt động trao
đổi kinh tế trên thế giới giảm theo. Nhiều nước công nghiệp áp dụng
chính sách bảo hộ như tăng mức thuế quan, định cô ta… Tháng 4-1929, 75
nước trên thế giới nhập khẩu 3 tỷ USD hàng hóa; bốn năm sau, con số này
chỉ còn 1 tỷ, giảm 69%.

Theo các chuyên gia kinh tế, chính sách
bảo hộ này là sự khác biệt đầu tiên của cuộc khủng hoảng năm 1929 so
với cuộc khủng hoảng đang diễn ra hiện nay. Khác biệt lớn thứ hai nằm ở
vai trò của chính phủ các nước trong việc giải quyết khủng hoảng. Vào
năm 1929, nhà nước hoàn toàn không đủ khả năng “bơm” một lượng tiền mặt
lớn vào hệ thống tài chính khi nó bị đe dọa sụp đổ.

Tổng thống Roosevelt đứng đầu một
chính phủ liên bang mà “trọng lượng” chỉ bằng 10% GDP toàn nước Mỹ.
Chính phủ hiện nay “trị giá” tới 40% GDP, có thể can thiệp dễ dàng hơn
rất nhiều. Việc quốc hữu hóa một thể chế tài chính lớn như AIG vừa qua
là điều khó lòng xảy ra vào năm 1929. Dù thế nào, nhà nước (Mỹ) cũng có
phần trách nhiệm trong chuyện này khi để cho các doanh nghiệp tài chính
“phá rào”, kẻ đầu cơ phải bị nghiêm trị đồng thời hệ thống tài chính
cũng phải được “giải cứu” … .


Theo dòng diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại:

7-9 : Hai ngân hàng Freddie Mac và Fannie Mae bị “quốc hữu hóa”

15-9: Ngân hàng Lehman Brothers phá sản; Bank of America mua lại Merill Lynch với giá 50 tỷ USD;

17-9: Sau khi Fed cho AIG vay 85 tỷ USD, chính phủ liên bang Mỹ sở hữu 80% vốn của hãng bảo hiểm lớn nhất nước;

18-9: Ngân hàng Anh HBOS tránh bị phá sản nhờ được Lloyds mua lại;

19-9: Henry Paulson, thư ký Ngân khố quốc gia, đưa ra kế hoạch giải cứu thị trường tài chính 700 tỷ USD;

22-9: FBI tiến hành điều tra trong giới tài chính; Warren Buffett mua lại một phần Goldman Sachs;

25-9:
Washington Mutual phá sản; TT Bush và 2 ứng viên TT John McCain và
Barack Obama gặp gỡ nhằm tìm giải pháp xử lý khủng hoảng;

28-9: Thượng viện Mỹ và chính quyền TT Bush thỏa thuận về kế hoạch Paulson;

29-9: Citigroup mua lại Wachovia; Hạ viện Mỹ không thông qua kế hoạch Paulson; Chỉ số Dow Jones tụt mạnh…


NGUYỄN VŨ (theo Le Monde)


Hành động

Information

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s




%d bloggers like this: