Lãi suất ở Việt Nam vẫn quá cao so với thế giới

14 11 2008

Bằng
công cụ lãi suất cơ bản, Ngân hàng Nhà nước vừa hạ trần lãi suất cho
vay xuống còn 18%/năm (trước đó lần lượt là 21% và 19,5%/năm). Tuy
nhiên, nhiều doanh nghiệp cho rằng lãi suất 18%/năm vẫn còn quá
cao, nhất là với những doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu trong môi
trường cạnh tranh toàn cầu.

Điểm
độc đáo của lãi suất cơ bản ở Việt Nam là không ai dùng lãi suất cơ bản
trong giao dịch thực tế. Trong nhiều năm thậm chí thị trường đã quên
mất cả sự tồn tại của lãi suất cơ bản. Đến giữa năm nay, một điều khoản
trong Luật Dân sự lại được viện đến: lãi suất không được vượt quá 150%
lãi suất cơ bản, từ đó hình thành ra một “trần” lãi suất cho vay và
được nhìn nhận như một định hướng cho lãi suất đầu ra của các ngân
hàng.

Lần
giảm lãi suất cơ bản gần đây nhất là ngày 5/11, giảm từ 13% xuống 12%,
cũng chỉ có ý nghĩa định hướng. Bởi vì trước ngay trước đó thì các ngân
hàng cũng đã cho vay dưới mức trần 18%. Lãi suất cao hay thấp?

Có
người nêu quan điểm là trước tình hình lạm phát vừa qua (25%/năm)
nhà kinh doanh dù có lãi 20%/năm vẫn không thể bảo lưu giá trị
vốn ban đầu. Cũng có lập luận cho là lãi suất cho vay của ngân
hàng 18% vẫn thấp, lãi suất huy động tiết kiệm đến 15% thì
người gửi tiền tiết kiệm sẽ mua vàng để bảo toàn vốn. Xin
nêu dưới đây một số lập luận khác:

(1)
Lạm phát công bố là con số thống kê của quá khứ, trong khi lãi suất lại
tùy theo kỳ vọng hướng đến tương lai. Tuy hai yếu tố này có thể so sánh
với nhau, nhưng không thể gắn chặt với nhau, đặc biệt vào những giai
đoạn thị trường có nhiều biến động mạnh.


thể lấy một ví dụ về biến động sau. Mới cách đây 3 tháng, giá dầu thô
lên hơn 147 USD/thùng. Hầu hết các dự báo đều cho là giá sẽ lên đến 200
USD/thùng. Nhưng đến nay giá dầu thô đã xuống dưới 60 USD/thùng, thì
các dự báo lại hướng đến con số 50 USD/thùng. Chỉ trong vòng không đầy
3 tháng, các con số dự báo đã chênh nhau đến 400%.

Diễn tiến lãi suất cơ bản

Trước 1/2/2008 8,25%
Từ 1/2/2008 đến 19/5/2008 8,75%
Từ 19/5/2008 đến 11/6/2008 12%
Từ 11/6/2008 đến 21/10/2008 14%
Từ 21/10/2008 đến 5/11/2008 13%
Từ 5/11/2008 đến nay 12%

(2)
Trong thời lạm phát, nhiều người chọn vàng làm công cụ cất giữ. Tuy
nhiên, có một rủi ro là không Chính phủ nào có thể kiểm soát giá vàng
để bảo vệ người giữ vàng.

Theo
biến động thế giới, giá vàng có thể lên hay xuống hết sức thất thường.
Vì vậy, không phải ai cũng sẵn sàng cất giữ vàng, và không phải người
mua vàng nào cũng đổ hết tiền của mình vào vàng.

(3)
Tiền đồng của Việt Nam so với USD nhiều năm qua có lúc tăng,
có lúc giảm nhưng không đáng kể. Báo cáo của Tổng cục Thống kê cho
thấy từ năm 2005 đến tháng 10/2008, tỉ giá USD so với tiền đồng chỉ
tăng 4,45%. Tiền đồng không mất giá so với USD, vậy tại sao lãi suất
cho vay của USD trên thế giới chỉ khoảng 3-4%, còn lãi suất cho vay
tiền đồng ở Việt Nam lại đến 18%?

Nguy cơ “treo trên đầu” doanh nghiệp

Do
ảnh hưởng của cơn bão khủng hoảng tài chính toàn cầu, sức mua
của các thị trường mạnh như Mỹ, châu Âu và Nhật đều giảm sút.
Các nhà sản xuất lớn như Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, Đài
Loan… đều phải tăng cường cạnh tranh về giá cả hàng hoá. Ngoài
các biện pháp như thay đổi công nghệ và phương pháp quản lý,
một chính sách quan trọng là hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp với
lãi suất thấp. Trong khi đó, dường như không tìm thấy nước nào trên
thế giới hiện có lãi suất cao như ở Việt Nam.

Trước nguy cơ phá sản “treo trên đầu” hàng ngày, đây là thời điểm các doanh nghiệp phải nghiêm túc nhìn lại mình.

Kinh
tế học có một chỉ tiêu là ICOR để so sánh mức gia tăng vốn đầu tư
với mức gia tăng sản lượng. Chỉ số này dùng để đánh giá hiệu quả sử
dụng đồng vốn của một ngành công nghiệp hay một nền kinh tế. Trên
thế giới, chỉ số ICOR thường ở mức trên dưới 3, còn ở Việt Nam, các báo
cáo cho thấy ICOR ở vào khoảng 5-6. Điều đó cho thấy Việt Nam tuy nghèo
nhưng hiệu quả sử dụng vốn lại quá thấp so với thế giới.

Trong
thời gian qua nhiều doanh nghiệp đã đầu tư vốn cao hơn mức vốn
cần thiết chẳng hạn đầu tư lớn vào nhà xưởng, thiết bị,
nhưng hàng hoá lưu thông chậm, nguyên liệu dự trữ tồn kho quá
mức so với quy trình sản xuất.

Nhiều
doanh nghiệp có vốn vay chiếm tỷ lệ cao đến bất hợp lý so với vốn
tự có, dẫn đến chi phí lãi vay cũng chiếm tỷ lệ cao trong giá
thành.

Về
công nghệ, nhiều doanh nghiệp nhập thiết bị rất hiện đại nhưng
trình độ sử dụng lại quá kém nên chưa khai thác hết công suất
của nhà máy. Ngay cả việc ứng dụng tin học trong quản lý của
các doanh nghiệp cũng thế. Đó là chưa tính đến chiến lược sản
phẩm, chiến lược thị trường không rõ ràng. Không chuyên nghiệp
trong việc quảng bá sản phẩm, quảng bá hình ảnh của doanh
nghiệp. Không quan tâm đến sự an toàn của sản phẩm và quyền
lợi của người tiêu dùng.

Thách thức “treo trên đầu” ngân hàng

Các
doanh nghiệp khó khăn, các ngân hàng cũng lo lắng. Nếu doanh nghiệp phá
sản thì số tiền đã cho vay vào doanh nghiệp đó cũng khó thu hồi đủ.

Chính vì vậy, một thách thức với các ngân hàng là phải góp sức nuôi doanh nghiệp trong lúc khó khăn này.

Thứ
hai, một khi lãi suất giảm thì ngân hàng lại lo làm sao để đồng vốn cho
vay được sử dụng đúng mục đích. Nói cách khác, làm sao đồng vốn trong
lúc khó khăn phải được dùng vào mục đích đầu tư mà không phải đầu cơ.
Bất động sản đã xuống giá quá nhiều so với cùng thời điểm này năm
ngoái, nên có thể lại trở nên hấp dẫn những người có tiền trong tay.
Đây là thách thức đề ngân hàng thể hiện bản lĩnh của mình trong việc
điều phối nguồn lực xã hội.

Thứ
ba, cần có hệ thống phân loại doanh nghiệp rõ ràng. Kích cỡ nào là
vừa, như thế nào là nhỏ, phân tích ngành nghề kinh doanh của
doanh nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp, thị trường của doanh
nghiệp, xác định nguồn vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp… Từ
đó mới có thể đánh giá được mức độ ảnh hưởng, mức độ khó
khăn của doanh nghiệp, để việc hỗ trợ tín dụng đạt hiệu quả cao nhất.

Phải nắm tay nhau vượt bão

Không
chỉ doanh nghiệp, mà ngân hàng phải bằng đồng vốn và lãi suất để tham
gia cùng doanh nghiệp xác định lại loại hình kinh doanh và cơ
cấu vốn, xác định quy mô sản xuất và kinh doanh thích hợp.

Trong
giai đoạn hiện nay, nên tập trung vào ngành hàng có thế mạnh
của doanh nghiệp, mạnh dạn cắt bỏ những loại hình kinh doanh
không thuộc thế mạnh của doanh nghiệp, giảm bớt hàng tồn kho,
kiểm tra tài chính và thu hồi các khoản nợ, hạn chế tối đa
việc vay vốn vào những đầu tư không cấp thiết.

Trước
mắt có dấu hiệu giảm phát, mọi người lo lắng về sự giảm
phát. Có lẽ cần thấy giá tiêu dùng giảm hiện nay là đúng, vì
nhu cầu tiêu dùng giảm thì giá phải giảm. Khi thấy giá giảm,
người có tiền lại mua vào, người bán được hàng lại tiếp tục
mua nguyên liệu để sản xuất, thị trường lại bắt đầu sôi động,
khi ấy giá cả lại từ từ nhích lên.

Dự
đoán của thị trường hiện nay còn rất phức tạp. Nhưng cơn mưa
nào rồi cũng qua đi để trời lại sáng. Còn trong lúc này, ngân hàng
vào doanh nghiệp phải hiểu nhau, nắm chặt tay nhau cùng vượt bão.

(Theo Tin Tức)


Hành động

Information

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s




%d bloggers like this: