Nước Mỹ – “Cạm bẫy ngọt ngào” hay…

12 11 2008


Người nhập cư dễ thành “tù nhân” của những giá trị mang theo từ quê
hương và bị giam cầm trong “cạm bẫy” của “thiên đường” với những giá
trị và giấc mơ Mỹ. Hoà nhập không dễ nhưng quên hẳn nguồn gốc thì cũng
không thể. Đó chính là sự “lênh đênh” trong chính tâm hồn những người
nhập cư…

Báo
cho người bạn, tôi sắp sang Mỹ làm việc dài dài, anh tròn mắt “Ở Việt
Nam, công việc tốt, nhà cửa đầy đủ, nội ngoại quây quần, không hiểu cậu
còn đi kiếm tiền làm gì. Hâm quá trời”. Trong suy nghĩ của anh, sang Mỹ
chỉ vì tờ đô la xanh đỏ. Thời phổ thông, học lịch sử Columbus thám hiểm
châu Mỹ rất thú vị, tôi quyết ra đi cho biết mùi vị xứ cao bồi tìm
vàng.

“Giấc mơ Mỹ”?. Ảnh: Hiệu Minh

Từ
Hà Nội đầy khói bụi, còi xe ầm ĩ, không khí ẩm mốc của vùng nhiệt đới,
sau 26 giờ bay đến Washington DC, cảm giác như từ cánh đồng trưa hè
nắng gắt ở Quảng Trị bước vào một khách sạn có điều hòa mát lạnh.

Xuống
sân bay quốc tế Dulles đã thấy nước Mỹ hiện ra như trong mơ. Rừng cây
xanh mát hai bên đường, những bụi hoa rực rỡ dưới nắng vàng. Đoàn xe
hơi tưởng chừng dài như vô tận. Từ DC nhìn sang Virginia, những tòa nhà
cao tầng lộng lẫy soi bóng bên dòng sông Potomac êm đềm trong chiều tà.
Thấp thoáng những biệt thự trong rừng như cổ tích và những thảm cỏ xanh
mông mênh. Bầu trời yên ả và không khí trong lành. “Giấc mơ Mỹ” và
“thiên đường” này quả có thật, ít nhất là cảm giác của tôi lúc đó.

Như
bao người lớn tuổi khác, tôi đến đất nước này và nghĩ sẽ ở một thời
gian, học hỏi kinh nghiệm, trao dồi tiếng Anh và quay về. Gặp sếp người
Pháp, ông tủm tỉm: “Tôi tới đây sáu tháng để công tác và muốn nâng cao
trình độ tiếng Anh. Nhưng rồi sau 15 năm nay, tôi vẫn đang học…tiếng
Mỹ”. Theo ông, Hoa Kỳ là cõi thiên đường với cạm bẫy ngọt ngào, người
nhập cư bước vào, khó thoát khỏi vòng kim cô của American Dream.

Sự đa dạng của Hợp Chủng Quốc

Gặp
người đồng nghiệp Mỹ đã từng trao đổi email trước đó, anh thản nhiên
hỏi tôi “Anh từ nước nào tới đây, Thái Lan hay Trung Quốc?”. Tôi nhìn
anh ta không chớp mắt: “Cha nội này nghĩ mình từ hành tinh khác đến
chăng?” với cảm giác niềm tự hào dân tộc bị xúc phạm.

Thế hệ trẻ người Mỹ- gốc Việt. Ảnh: Hiệu Minh

Nhưng
ở thêm vài tuần, tôi phát hiện, người Mỹ bình dân không quan tâm bạn
đến từ nước nào tới. Nếu biết từ Việt Nam, đôi người còn hỏi, hình như
ở đó còn chiến tranh. Sự vô tâm của người Mỹ về nguồn gốc của một ai đó
là hết sức bình thường. Có thể, bản thân hay dòng tộc là người nhập cư,
hoặc người Mỹ thuộc về “toàn cầu”.

Kể
từ năm 1620, khi chuyến tầu hành hương đầu tiên của người Anh cập bến
New York đến nay, ngày ngày vẫn có hàng ngàn người nhập cư. Thời gian
đầu phần lớn là người Anh, người Âu, rồi dân tứ xứ đến từ châu Phi,
châu Á, và sau gần 400 năm đã làm nên Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ với hơn 305
triệu dân.

Trong
dòng người đó, số người Việt ta cũng đáng kể, khoảng 1.5 triệu người
Việt. Họ sống rải rác ở ở nhiều bang trong đó có phần lớn tập trung ở
California và Texas. Khoảng 30-40 ngàn người Việt, phần đông có học vấn
cao và công việc tốt ở Virginia và Maryland, cạnh thủ đô Washington
DC.


đây, mỗi người Việt có số phận bi tráng và nỗi buồn thương không giống
ai. Thăm bất kỳ gia đình Việt nào cũng có thể nghe được một câu chuyện
và sẽ hiểu tại sao họ gắn bó với vùng đất mới.

Người nhập cư và “giấc mơ Mỹ” (American Dream)

Đến
Mỹ lần đầu tiên, bạn sẽ bị choáng ngợp bởi đất nước rộng lớn, nếp sống
văn minh công nghiệp với nền khoa học kỹ thuật tiên tiến. Từ Đông sang
Tây có bốn múi giờ khác nhau với 50 bang, riêng bang California đã có
diện tích hơn Việt Nam ta. Người nhập cư đến từ các quốc gia nghèo, bất
kể nguồn gốc nào, cao sang hay thấp kém, từ giới thượng lưu hay người
bán phở của Sài Gòn xưa, đều thừa nhận “giấc mơ Mỹ” là có thật.

Nếu
so sánh với quê nhà, từ người y tá, lái xe, công nhân xây dựng đến
những nhân viên ngân hàng hay quản lý cao cấp, thu nhập tại đây như mơ.
Với thể chế tam quyền phân lập dưới sự giám sát của quyền lực thứ tư là
báo chí, cuộc sống ở xứ sở này khá an toàn vì luật pháp thượng tôn,
lương bổng cao, chế độ bảo hiểm tốt, hưu trí đảm bảo, giáo dục miễn phí
cho học sinh phổ thông, và cả vấn đề tự do, dân chủ, quyền con người.

Nhiều
người đã nai lưng ra làm việc mong có tiền để trụ lại. Anh chủ quán
trên đường Pennsylvania kể rằng, anh đi làm ở văn phòng, từ 9 giờ sáng
đến 6 giờ chiều, đi thẳng tới quầy bar bán rượu giúp vợ bán phở kèm
pizza và 2 giờ sáng mới về đến nhà. Có vài người giúp việc theo giờ
nhưng hai vợ chồng vẫn lo từ mua hàng, nấu nướng đến rửa bát. Cuối tuần
gần như thức trắng đêm vì khách đông. Ma lực ước mơ làm giầu đã giúp họ
không cảm thấy mệt mỏi. Thật hạnh phúc khi làm ra của cải bằng chính
sức lao động và được đền đáp xứng đáng.

Chăm
chỉ, giỏi giang và chuyên nghiệp sẽ không bao giờ mất việc, cuộc sống
được đảm bảo và thậm trí trở thành giầu có. Nhà cửa xe hơi được vay trả
góp. Sau vài chục năm lao động lương thiện có thể làm chủ ngôi nhà nửa
triệu đô la. Những người mất việc làm, vô gia cư hay ăn xin hầu hết là
lười biếng, trộm cắp bị tù tội và không biết lượng sức mình trong chi
tiêu, mới ra nông nỗi đó.

Tôi
gặp một bác làm công việc hành chính ở cơ quan, ra đi từ 20 năm trước.
Tuy có bằng luật thời Sài Gòn (cũ) nhưng sang đây lúc đã xế chiều nên
bác nhận những việc lương thấp để nuôi ba đứa con. Vốn năng động, từ
hai bàn tay trắng, bác đã gây dựng một gia đình rất đàng hoàng bên
Virginia. Ba đứa con tốt nghiệp đại học, có bằng kỹ sư và bác sỹ đang
hành nghề với lương rất cao.

Bác
tâm sự “Ở Việt Nam, có lẽ tôi sẽ chỉ đủ sức cho một đứa vào đại học.
Sang đây có chế độ vay tiền cho con vào đại học nên chúng mới được bằng
cấp tiêu chuẩn quốc tế dù nhà nghèo”. Số phận đẩy bác sang một bến bờ
khác. Kỳ diệu thay, bác thực hiện giấc mơ của mình với một cái nghề hết
sức bình thường tại một nơi xa lạ. Đối với tôi, bác chính là thần tượng
thành đạt trong American Dream.

“Giấc mơ Mỹ’ hay ác mộng? Ảnh: Hiệu Minh

Còn
biết bao những gương mặt Việt thành công khác. Có người vào Nhà Trắng
làm cố vấn hay làm ông chủ giầu có ở Silicon Valey. Phần đông người
Việt Nam vốn yêu lao động, chịu khó làm ăn đã định cư bên Mỹ yên ổn và
hòa nhập với xã hội dễ dàng.

Gía trị Mỹ – American Values

Nếu
hỏi giá trị đất nước “con Rồng cháu Tiên”, không phải ai cũng trả lời
được. Tương tự, đặt câu hỏi ”Giá trị Mỹ là gì?” rất dễ, nhưng trả lời
lại rất khó và phức tạp. Tiến sỹ Thomas Grouling (Trung tâm nghiên cứu
quốc tế, Đại học Drake) gói gọn trong mấy từ: Cá nhân, giáo dục, gia
đình và riêng tư (individualism, education, the family and privacy).
Ngoài ra, phải kể đến tự do cá nhân, tự lực cánh sinh, cần cù, cơ hội
bình đẳng, vật chất, thời gian là tiền bạc hay kể cả sự cạnh tranh
không khoan nhượng.

Đối
với người Mỹ, vai trò cá nhân tối quan trọng. Nó được thể hiện trong
cách xã hội phát triển, trong giáo dục, sinh hoạt gia đình, văn hóa và
được luật pháp hỗ trợ. Các công ty gia đình hay của cá nhân đã đóng vai
trò lớn trong nền kinh tế. “Làm ông chủ của chính mình” là một trong
những “giấc mơ Mỹ” ngọt ngào nhất.

Đến
trường, học sinh học tập một phần nhỏ trên lớp, còn lại sẽ phụ đạo tại
gia, ngoài xã hội, thông qua các buổi đi thực tế, trao đổi và phản
biện. Mỗi trường có mục tiêu đào tạo riêng, gia đình có thể tham gia
vào chương trình dạy và học cho các em. Câu nói nổi tiếng “Bạn có thể
trở thành bất kỳ ai” đã giúp cho nền giáo dục được định hướng theo
phong cách tự học, hoàn thiện bản thân để trở thành người tốt nhất có
thể, phát triển tài năng và vì thế đóng góp cho xã hội tối ưu nhất. Đất
nước không câu nệ bằng cấp miễn là phải có khả năng, nên đã tạo ra
thiên tài tin học như Bill Gates hay Steve Jobs, không tốt nghiệp đại
học, nhưng giàu có nhất nhì thế giới.

Người
ta nói gia đình là nền tảng của xã hội quả không sai. Ở Mỹ, trong gia
đình, bố mẹ được con cái tôn trọng và ngược lại, con cái có thể tranh
luận với bố mẹ một cách bình đẳng. Bố mẹ vào phòng con phải gõ cửa. Có
nhiều cung cách ứng xử “muốn nói ngoa làm cha mà nói”, nhưng người Mỹ
không chấp nhận cách sống hay quản lý áp đặt. Cha mẹ muốn khuyên con
điều gì không thể ra lệnh hay cầm roi dọa mà phải “đàm phán” khéo léo
đến khi đứa trẻ đồng ý.

Đến
chơi nhà bạn bè, bạn sẽ được đón tiếp thân mật và bảo “cứ tự nhiên như
ở nhà”. Họ tôn trọng sự lựa chọn cá nhân nên ít khi gắp thức ăn cho
khách mà chỉ giải thích, món này có thịt bò, món kia thêm rau bắp cải.
Khách nửa đêm lục tủ lạnh tìm đồ ăn hay ra hiên ngồi một mình cũng
không ai hỏi tại sao.

Tôn
trọng chốn riêng tư là một “giá trị Mỹ” khác. Nó thể hiện từ trong cách
bố trí các phòng trong ngôi nhà đến quan hệ gia đình, bạn bè và xã hội.
Khu nhà ở thường được thiết kế trong môi trường cây xanh và tĩnh lặng
tuyệt diệu, xe cộ ít chạy qua. Ngồi trong nhà liên lạc internet với thế
giới cả ngày không bị ai quấy hay làm ồn.

Thế hệ “Công dân toàn cầu”. Ảnh: Vũ Duy Mẫn

Câu
chào đơn giản “Hello” không kèm theo những câu hỏi như ở Việt Nam ta dễ
làm khách ú ớ kiểu: “Bác năm nay bao nhiêu, lương có khá không, chị nhà
đi làm chưa?”. Một số người Mỹ không có gia đình, thường nuôi súc vật
như chó, mèo, nên không thích ai hỏi về con cái hay bạn đời. Gặp dân
“bóng”, lời chào “Hi” vô thưởng vô phạt sẽ tránh phải chọn cách chào
“chị” hay “anh”.


nước Mỹ, cái “tôi” trong mỗi con người chính là động lực của thành
công. Người Mỹ luôn lạc quan vào ngày mai và tin rằng mọi việc sẽ ổn.
Cách nhìn luôn hướng tới tương lai đã giúp xã hội tiến bộ trong khoa
học, y tế và công nghệ mà các quốc gia khác đôi lúc chỉ nằm mơ.

Người
đến Mỹ và mang theo văn hóa riêng vẫn được chào đón vì họ tôn trọng bản
ngã con người, “bạn là bạn, tôi là tôi và cả hai làm nên chúng ta”. Bạn
có thể giúp văn hóa của họ thêm phong phú, giống như người Mỹ cũng tìm
cách gây ảnh hưởng với bạn. Họ coi việc giúp đỡ người khác là đạo đức
và trách nhiệm.

Khu
chợ Eden hay Bolsa của người Việt, phố Tầu của người Hoa, chùa chiền
của đạo Phật hay thánh đường Hồi giáo được tôn trọng như những siêu thị
Mỹ hay nhà thờ Thiên Chúa giáo. Sự đa dạng về dân tộc, văn hóa, phong
tục và những bản ngã riêng của từng người đã góp phần phong phú thêm
cho American Values.

“Mắc bẫy” trên “thiên đường”

Người
bạn xứ Bangladesh cho tôi xem câu chuyện “Mắc bẫy trên thiên đường”
(cùng tên một bộ phim Mỹ), viết về số phận những người nhập cư đến từ
chính tổ quốc anh. Bài báo mô tả một người nhập cư lớn tuổi bị một nỗi
giằng xé trong lòng “tấm thân phiêu bạt xứ người nhưng hồn ở quê nhà”.


lẽ câu chuyện trên đúng với bất kỳ người bỏ quê hương xứ sở ra đi khi
đã trưởng thành, nơi chôn rau cắt rốn đã ăn sâu vào trái tim. Đó chính
là cuộc đấu tranh trong lòng khi màn đêm buông xuống như người Việt ở
Cali nhớ sông Hương êm đềm xứ Huế, hay bến Bạch Đằng nhộn nhịp ở Sài
Gòn.

Vừa
muốn ở lại để con cái được học hành trong hệ thống giáo dục thuộc loại
tiên tiến nhất thế giới, kiếm thêm tiền, hưởng môi trường tự do của xứ
sở mà bản ngã con người được tôn trọng lại vừa muốn đứa con vẫn là
người Việt Nam, nói hai thứ tiếng. Mong con như Mỹ nhưng lại muốn chúng
biết khoanh tay chào, ăn cơm biết mời, gọi “dạ” bảo “vâng”.

Cách
giáo dục và văn hóa phương Tây thường nuốt chửng thế hệ tương lai của
những người nhập cư. Hầu hết, lớn lên thế hệ trẻ sẽ không biết nơi bố
mẹ sinh ra ở đâu, thậm chí xem tivi, báo chí thấy cách đối xử bất công,
chúng sẵn sàng ra đường biểu tình và mang “giá trị Mỹ” áp đặt vào chính
tổ quốc của cha ông. Trong gia đình kiều dân hay có những cuộc tranh
luận nảy lửa, xung đột văn hóa và những giá trị truyền thống mà phần
thắng thuộc về thế hệ đã sinh ra trên đất Mỹ.

Thế
hệ trẻ ấy lớn lên cùng ba má về thăm Sài Gòn với tiếng Việt lõm bõm.
Thấy chó chạy rông định ôm mà không biết có thể bị cắn. Tuy nhiên, các
cháu có một nền văn hóa “công dân toàn cầu”. Thuyết phục họ về cội
nguồn với tình yêu quê hương thì đó lại trở thành kho báu mà người Mỹ
tặng “không” cho đất nước.

Bố
mẹ xứ Á châu thường không thích con gái yêu người da mầu. Tuy nhiên, cô
gái lại được giáo dục “phân biệt chủng tộc là điều cấm kỵ” nên vẫn ôm
anh da đen hay Mễ Tây Cơ. Phụ huynh đành ngậm ngùi: “Kệ cha chúng mày”.

Người
nhập cư dễ thành “tù nhân” của những giá trị mang theo từ quê hương và
bị giam trong “cạm bẫy” của thiên đường với những giá trị và “giấc mơ
Mỹ”. Hòa nhập không dễ mà quên hẳn nguồn gốc thì cũng không thể. Đó
chính là sự “lênh đênh” trong chính tâm hồn những người nhập cư.

Rất
nhiều người sau khi đã có việc làm và thu nhập ổn định, bắt đầu quen
với cách sống của người bản xứ. Họ mua nhà, sắm xe rồi các tiện nghi,
kéo theo trả lãi ngân hàng trong thời gian 20-30 năm, cuối cùng chính
họ không thể ra khỏi vòng quay cuồng đó. Sợ mất số tiền đã đầu tư nên
họ phải cố giữ lấy việc làm, kiếm thêm và cuối cùng kết thúc trong cái
“bẫy bằng vàng” của đồng đô la.

Con
cái và tương lai của chúng cũng là nguyên nhân khác dẫn đến bố mẹ bị
“giam cầm” ở chốn này. Định cho con học một hai năm rồi về nước, nhưng
họ cũng nhận ra nền giáo dục ở đây là niềm mơ ước của bao người ở quê
nhà,  nên thời gian trôi đi, những đứa trẻ lớn lên và chuyện trở về quê
cũng mờ theo. Anh bạn tôi gọi đùa chúng là “quản giáo” của cha mẹ ở
“thiên đường”.

Hàng
năm, bốn năm triệu người Việt tha hương gửi hàng chục tỷ đô la giúp
thân nhân trong nước. Nếu biết rằng, kiếm được đồng tiền ở nước ngoài,
tiết kiệm gửi về, tốn không ít mồ hôi và nước mắt, sẽ đánh giá được hết
tấm lòng của họ với quê hương. Và cũng nên hiểu thêm nỗi giằng xé trong
tâm can mỗi người nơi viễn xứ.

Ai
đó mong đến Mỹ để hưởng thụ mà không phải làm gì, nên chuẩn bị túi ngủ
để tham gia đám vô gia cư. Định hối lộ hay phong bì cho nhanh việc sẽ
kết thúc trong trại giam. Không phải người nhập cư nào cũng may mắn tìm
được “giấc mơ Mỹ”. Đất nước này khắc nghiệt nhưng cơ hội cũng rất công
bằng cho tất cả mọi người.

Nếu
không có tài hay chút may mắn có thể thành người sống chui lủi, làm
những công việc rẻ mạt để một ngày kia bị trục xuất. Người chủ thuê trả
công thấp vì dân nhập cư thân phận, ngôn ngữ yếu, lại không nắm được
luật pháp, dễ bị tư bản cá mập nuốt chửng. Người ta nói, luật pháp Mỹ
rất công minh khi có nhiều tiền thuê luật sư hoặc biết…luật. Nếu
không, sống ở nơi luật rừng tốt hơn.

Virginia bên sông Potomac êm đềm. Ảnh: Hiệu Minh

Nhớ
ngày nào mới đến, đứng trên nóc Trung tâm Kennedy ngắm DC lúc chiều
buông, tôi chợt nhớ quê đến nao lòng, khi nhìn mặt trời lặn phía Tây xa
xa và thầm hứa sẽ quay về. Năm năm đã qua, tôi lờ mờ hiểu chính mình
cũng đang vùng vẫy trong cái “bẫy vô hình” ở chốn này. Sợ nhất một ngày
kia, cậu con trai tôi cũng sẽ hỏi đồng hương Việt: “Quí ông là người
Lào hay Nhật”.

Mỗi
lần gọi điện về quê, câu hỏi nghẹn ngào đầu tiên của mẹ tôi: “Bao giờ
đưa các cháu về thăm nhà” hoặc: “Con cứ về, ở nhà cơm cháo có nhau hơn
là giầu sang nơi đất khách. Mẹ thương nhớ các cháu lắm”. Biết mẹ già
không còn nhiều thời gian trên trái đất này, nhưng vì con cái, công
việc và vài thứ cám dỗ nơi đây nên tôi lấn cấn nỗi lòng “kẻ ở người đi”
khi hứa liều: “Con sẽ về”.

Mỗi
ngày có hàng triệu người muốn đến nước Mỹ như tôi đã ước mơ thuở nào.
Ít ai tới “thiên đường” lại bỏ đi. Tuy thế, khi tới sân bay Dulles, để
ý phía cửa xuất cảnh cũng thấy khá đông người. Với một số người, giấc
mơ sang Mỹ tìm vàng đôi khi thành ác mộng. Với số khác, không muốn làm
“tù nhân” nơi đây, nên họ quay về trần gian nơi cố hương để xây thiên
đường cho chính mình.

  • Hiệu Minh

Washington DC, 11-2008.





Mở cửa thị trường phân phối: nỗi lo trước giờ G

12 11 2008

-
Theo cam kết WTO, từ khi gia nhập, Việt Nam cho phép các doanh nghiệp
(DN) phân phối liên doanh với tỷ lệ vốn góp đến 49%, từ 1/1/2008 là
không hạn chế tỷ lệ vốn góp và đặc biệt từ 1/1/2009 cho phép thành
lập DN phân phối 100% vốn tại Việt Nam. Đây là thời điểm đánh dấu sự mở
cửa hoàn toàn đối với thị trường phân phối.

Vẫn còn những điểm “hở”

Ông Nguyễn Sinh Nhật Tân
- Vụ phó Vụ Pháp chế – Bộ Công Thương cho biết, hiện nay, các văn bản
quy định, hướng dẫn về thực thi cam kết WTO trong lĩnh vực phân phối đã
được ban hành khá đầy đủ. Về cơ bản đây có thể xem là một lĩnh vực kinh
doanh có điều kiện và DN khi đầu tư vào đây phải đáp ứng các tiêu chí
do các cơ quan quản lý đưa ra.

DN nước ngoài vào thị
trường Việt Nam được tự do lập cơ sở thứ nhất sau khi đáp ứng được
các tiêu chí là: số lượng các cơ sở bán lẻ trên địa bàn; sự ổn định của
thị trường, mật độ dân cư, sự phù hợp quy hoạch… Các địa phương cũng
dựa trên các tiêu chí này để cấp phép.

Rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã thành công trên thị trường phân phối Việt Nam. (Ảnh: VNN)

Tuy nhiên, một chuyên
gia phân phối cho biết, lo ngại cũng nảy sinh từ đây, do hầu hết
là quy định chủ yếu là định tính. Khi các địa phương cấp phép, nếu
không có một sự nhạy cảm và “nhìn xa”, mà chỉ muốn thu hút được vốn đầu
tư thì những yếu tố định tính lại có thể rất dễ vượt qua. Và chuyện này
sẽ xảy ra trong thực tế khi các DN phân phối 100% vốn vào Việt Nam
nhiều hơn khi quyền cấp phép trong lĩnh vực phức tạp này lại thuộc về
địa phương – nơi vốn được xem là chưa có nhiều kinh nghiệm về quản lý.

Về vấn đề này, bà Hoàng
Thị Tuyết Hoa – Vu phó Vụ Kế hoạch thừa nhận, cấp phép hiện nay do địa
phương làm. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều lỏng lẻo. Cần nhìn nhận
vấn đề ở đây là không chỉ khuyến khích đầu tư mà còn phải mở cửa dịch
vụ phân phối cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh đó, bà Hoa cũng
chỉ ra một điểm hở cần chú ý, theo các quy định việc bán hàng của doanh
nghiệp sản xuất và dịch vụ phân phối là hai vấn đề khác nhau. Hiện nay,
các DN đầu tư nước ngoài có sản xuất tại Việt Nam được quyền nhập khẩu
hàng để bán. Vậy các DN này có được bán hàng trên hệ thống bán sản phẩm
của họ có sẵn trước đây hay không?

TIN LIÊN QUAN

Đặc biệt, có một kẽ hở lớn rất có thể sẽ được các nhà đầu tư nước ngoài
lợi dụng để vượt qua các rào cản kỹ thuật đó là sử dụng hình thức
nhượng quyền thường mại. Luật quy định nhà đầu tư nước ngoài khi mở
điểm phân phối thứ hai phải xin phép và được chấp thuận. Tuy nhiên, họ
có thể thực hiện việc nhượng quyền thương mại, đưa thương hiệu, công
nghệ.. tham gia vào thị trường phân phối dưới danh nghĩa một công ty
trong nước. Và về lâu dài sẽ có những cách khác để họ có thể nắm quyền
thực chất hơn mà không cần phải giải trình về các điều kiện như yêu cầu
mở thêm một điểm mới.

Vấn đề này càng trở nên
đáng ngại đối với những lĩnh vực nhạy cảm mà Việt Nam kéo dài thời gian
mở cửa hay loại trừ vĩnh viễn không mở cửa. Tuy nhiên, ngay cả đối với
các DN Việt Nam đang sản xuất, kinh doanh các mặt hàng không mở cửa
theo cam kết, số liệu thống kê không chính thức cho thấy, hiện có khá
nhiều DN trong ngành dược đã bán tới 30% cổ phần cho các tập đoàn nước
ngoài. Tương tự, trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu và một số DN ngành
hàng khác cũng không loại trừ có thể họ đã và sẽ bắt tay với DN nước
ngoài vì luật không cấm…

Và trong cả hai trường
hợp trên, sự hiện diện của nước ngoài là không thể chối cãi và một khi
họ trở thành cổ đông lớn trong các DN này thì mọi quy định về hạn chế
hay loại trừ đều bị vượt qua.

Quy hoạch là gốc rễ

Trước những vấn đề này,
ông Hoàng Thọ Xuân – Vụ trưởng Vụ Chính sách thị trường trong nước cho
rằng đã có sự chuẩn bị về cơ bản. Tuy nhiên, có những phát sinh mới
trong thực tế thì cần phải có sự liên hệ, thống nhất để trao đổi giải
quyết. Chuẩn bị cho ngày 1/1/2009, Bộ Công Thương sẽ thành lập một tổ
phối hợp công tác giữa các cơ quan liên quan để giải quyết các vấn đề
cần thiết.

DN trong nước sẽ chịu sức ép lớn hơn. (Ảnh: VNN)

Ông Xuân cũng nhấn mạnh
đã có cam kết và có các văn bản quy định hiện thực hóa các cam kết đó.
Đó là thông điệp nói với các nhà đầu tư rằng, sự hiện diện thương mại ở
Việt Nam buộc phải có các điều kiện và họ phải thoả mãn các điều kiện
đó. Cam kết cho phép chúng ta có quyền đặt ra các tiêu chí và nhà đầu
tư phải đáp ứng. Đây là cách mà nhiều nước đã làm. Vì thế, có thể nhà
đầu tư trong nước được làm nhưng nhà đầu tư nước ngoài không được làm
mà không thể thắc mắc.

“Tất nhiên, điều này
không có nghĩa các DN trong nước muốn làm sao cũng được mà quan trọng
là các DN phải mạnh lên. Nếu chuẩn bị tốt chắc chắn chúng ta sẽ không
đến nỗi mất bình tĩnh”- ông Xuân khẳng định.

Được biết, hiện nay, Bộ
Công Thương đang cùng các địa phương phối hợp rà soát và xây dựng các
quy hoạch về phân phối, thương mại. Đến cuối quý 1/2009 sẽ hoàn thành
để phê duyệt. Theo đó, Bộ sẽ thực hiện các quy hoạch lớn, các vùng
trọng điểm, cơ sở mang tầm cỡ quốc gia, địa phương thực hiện chi tiết,
cụ thể. Làm sao quy hoạch của địa phương và của Bộ không trái nhau. Có
quy hoạch là cơ sở quan trọng để định hướng phát triển thị trường phân
phối, kêu gọi DN trong nước hợp lực để phát triển, cạnh tranh tốt hơn.

“Với sự chuẩn bị như
thế, nhiều chuyên gia cho rằng, các DN và nhà quản lý đã nhận thức được
vấn đề. Cái lo bây giờ không phải là không có sự thống nhất, rồi
đến lúc nào đó mỗi nơi nói một kiểu, các vấn đề cụ thể sẽ rất khó giải
quyết”- ông Xuân nói.

  • Phước Hà





“Người dân sẽ được giảm cước điện thoại nội tỉnh!”

12 11 2008

– Trong buổi trả lời trực tuyến sáng nay (11/11/2008) của Thứ trưởng
thường trực Bộ TT-TT Lê Nam Thắng, nội dung về đề án tái cơ cấu cước
điện thoại nội hạt và nội tỉnh được báo giới đặc biệt chú ý. Theo đó,
trong thời gian tới, người dân vùng nông thôn sẽ được hưởng hợi nhờ mức
cước điện thoại nội tỉnh rẻ hơn so với hiện tại.

>> “Muốn đất nước phát triển, hạ tầng viễn thông phải bền vững!”

Toàn cảnh cuộc trực tuyến sáng 11/11/2008 tại Bộ Thông tin & Truyền thông. Ảnh: Lê Anh Dũng.

Mức cước điện thoại nội tỉnh còn bất cập

Trong
phần trả lời báo chí đầu giờ sáng, Thứ trưởng Lê Nam Thắng đã nêu lên
tính bất cập trong việc áp dụng cách tính cước nội hạt, nội tỉnh như
hiện nay. Theo đó, tại 3 thành phố lớn là Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng,
các cuộc gọi nội vùng được áp mức cước nội hạt với giá rẻ. Nhưng tại
các tỉnh khác, các cuộc gọi bên trong tỉnh lại bị áp dụng mức cước nội
tỉnh cao hơn cước nội hạt tại các thành phố lớn, dù khoảng cách giữa 2
đầu cuộc gọi có thể còn ngắn hơn cuộc gọi nội hạt trong thành phố lớn.

Do đó,
nội dung đề án tái cơ cấu cước điện thoại nội hạt và nội tỉnh sẽ đặt
mục tiêu giảm mức cước nội tỉnh xuống thấp như cước nội hạt tại các
thành phố lớn, nhằm giúp người dân tại các vùng nông thôn được tiếp cận
với mức cước điện thoại rẻ hơn khi gọi điện thoại nội tỉnh.

Cũng theo
Thứ trưởng Thắng, tỉ lệ người dân được hưởng lợi từ đề án này sẽ rất
nhiều, vì theo số liệu thống kê, trong 10 cuộc điện thoại thì có đến 9
cuộc là gọi nội tỉnh. Số lượng thuê bao điện thoại cố định tại các tỉnh
cũng rất lớn chứ không hề nhỏ.

Khi được
hỏi về khả năng các doanh nghiệp viễn thông gặp bị thất thu do giảm
cước gọi nội tỉnh hay không? Thứ trưởng Lê Nam Thắng cho biết tất cả
các doanh nghiệp viễn thông đều ủng hộ đề án tái cơ cấu cước nội hạt,
nội tỉnh.

Bên cạnh
đó, khi mức cước nội tỉnh giảm đáng kể, sẽ kích thích nhu cầu sử dụng
của người dân, và doanh nghiệp viễn thông thậm chí còn tăng doanh thu
cao hơn.

Đồng nhất cước nội hạt, nội tỉnh với giá 200đ/phút

Mặt khác,
theo đề án tái cơ cấu cước điện thoại nội hạt, nội tỉnh, mức cước nội
hạt sẽ được điều chỉnh cao lên để giảm khoảng cách chênh lệch và sự
phân biệt giữa cước nội hạt và cước nội tỉnh.

Theo giải
thích của Thứ trưởng Lê Nam Thắng, mức giá cước nội hạt được ban hành
từ năm 2000 và không đổi cho đến nay. Trong xu thế giá cả đều tăng
trong khoảng thời gian đó, mức cước nội hạt hiện tại đang bị thấp hơn
giá thành.

Mức cước
nội hạt bị thấp hơn giá thành còn xuất phát từ hệ quả trước đây, để phổ
cập rộng dịch vụ điện thoại cố định, cước nội hạt đã được bù chéo từ
các dịch vụ khác. Nhưng đến nay, chi phí giá thành của các dịch vụ đó
cũng đã tiến sát tới phí dịch vụ, nên không thể tiếp tục bù chéo lợi
nhuận cho cước nội hạt nữa.

Thứ
trưởng Thắng cũng cho biết: “Trước khi trình đề án lên Thủ tướng,
Bộ TT-TT đã lấy ý kiến của các DN. Các khảo sát cho thấy
ảnh hưởng rất ít tới các DN ở cả 2 phương án, các DN không
có thay đổi doanh thu. Người tiêu dùng không phải chi trả thêm
đáng kể”.

“Đề án
tái cơ cấu cước nội hạt, nội tỉnh đã được Bộ trình Chính phủ vào cuối
tháng 10/2008, xin đề nghị Thủ tướng thực hiện theo phương án 2. Theo
đó, từ 1/1/2009 sẽ thực hiện giai đoạn 1. Bộ TT-TT chỉ quản lý gói cước
cơ bản (gói cước liên lạc tại nhà thuê bao), mức cước thuê bao 20.000, liên lạc nội hạt 200 đồng/phút, vùng nội hạt là toàn bộ địa giới trong tỉnh, thành phố. Tính cước của gói cơ bản là tính 1 phút.

Về
các gói cước khác: Triển khai tại các điểm giao dịch, của các khách
hàng lớn. Các DN được quyền tự quy định giá cước. DN tự quy định theo
chỉ số giá trần CPI (sự biến động trong năm của chỉ số giá của nền kinh
tế). Các DN quy định không vượt quá 50% gói cước cơ bản.”

Thêm đầu số điện thoại cố định là hợp lý!

Trả lời
câu hỏi báo chí về việc nâng đầu số thuê bao cố định lên 8 chữ số tại
các thành phố lớn như Hà Nội, với kho số lên tới cả trăm triệu số,
trong khi dân số Việt Nam chỉ mới hơn 84 triệu dân, liệu có phải là một
sự lãng phí tài nguyên kho số hay không? Thứ trưởng Thắng cho biết:

“Hiện
tại, nếu tính cả dân cư di chuyển từ các vùng khác về thì Hà Nội hiện
có khoảng 7 triệu dân. Với dải thuê bao 7 chữ số thì kho số được sử
dụng là khoảng 8 triệu số. Như vậy sẽ không đảm bảo trong tương lai. Do
đó việc tăng thêm đầu số cho thuê bao cố định là hợp lý, và khi tăng
thêm 1 con số thì quỹ kho số tăng lên 10 lần, từ 8 triệu thành 80 triệu
số và việc dễ hiểu.”

“Hiện
tại, quá trình đổi số điện thoại cố định cơ bản đã thực hiện xong,
nhưng phải còn một thời gian nữa thì người dân mới quen được hoàn
toàn”, Thứ trưởng Thắng cho biết thêm.

  • B.M. (tổng hợp)