Quản lý hiệu quả cùng mô hình SWOT, STEEPLE và PLC

12 08 2011

quan ly hieu qua cung mo hinh SWOT Quản lý hiệu quả cùng mô hình SWOT, STEEPLE và PLCThuật ngữ SWOT này đã khá quen thuộc với giới kinh doanh, nó là từ viết tắt của 4 yếu tố: strengths (S) – điểm mạnh, weaknesses (W) – điểm yếu, và các nhân tố tác động bên ngoài như thời cơ (opportunities – O) hay mối nguy hại (threats – T).

STEEPLE lấy từ chữ cái đầu của các từ tiếng anh khi chuyển nghĩa sang tiếng Việt có nghĩa là: văn hoá – xã hội, công nghệ, kinh tế, môi trường, chính trị, kinh doanh điện tử và khung pháp lý.

Và cuối cùng là khuôn mẫu PLC: Product Life Cycles: vòng đời sản phẩm.

Bản phân tích SWOT đóng vai trò rất quan trọng trong việc bắt kịp những chiến lược vì công việc kinh doanh đã được lên kế hoạch. Ví như, nắm rõ được những mối nguy hại cho doanh nghiệp: biết sớm được mối cạnh tranh có thể giúp doanh nghiệp tháo gỡ được nó tốt hơn. Điều này có thể được tiến hành bằng việc quảng bá những ưu điểm của sản phẩm và làm mờ đi những khuyết điểm. Bản phân tích SWOT cũng có thể giúp công ty chuẩn bị sẵn sàng các nguồn lực và khả năng với mưu đồ cạnh tranh của đối thủ.

Bản phân tích STEEPLE mở ra cho doanh nghiệp những xu hướng tương lai có thể đoán trước. Điều này giúp doanh nghiệp xác định được những yếu tố có khả năng ảnh hưởng tới công việc kinh doanh trong những năm tới.

Nhân tố văn hoá – xã hội có thể bao gồm yếu tốt địa lý dân số, phân bổ thu nhập, thay đổi phong cách sống, trình độ giáo dục. Nhân tố công nghệ là việc nghiên cứu, phát triển những công nghệ mới, chuyển đổi cơ chế công nghệ. Nhân tố môi trường liên quan đến các đạo luật bảo vệ môi trường, các chính sách môi trường của các nhà chức trách địa phương. Còn nhân tố kinh tế bao gồm các chu kì phát triển kinh doanh, các xu hướng tổng sản phẩm quốc dân, tỉ lệ lãi suất, lạm phát, thất nghiệp, thu nhập.

Nhân tố chính trị là sự ổn định của chính phủ, các điều lệ thương mại quốc tế, chính sách thuế. Nhân tố luật pháp bao gồm hệ thống pháp luật độc quyền, các luật lệ làm việc và luật liên quan đến phân biệt đối xử. Nhân tố đạo đức gắn liền với những chuẩn mực đạo đức, tinh thần quản lý các chính sách và điều lệ của doanh nghiệp. Bản phân tích STEEPLE vạch rõ những vấn đề mấu chốt tác động đến công ty và những vấn đề này sẽ tác động tới các chiến lược kinh doanh như thế nào.

Mô hình PLC gắn với chu kỳ dòng sản phẩm trên thị trường. Mỗi sản phẩm đều có một “vòng đời” giống như một cơ quan sống, sản phẩm sẽ phát triển và trưởng thành rồi suy thoái. Các giai đoạn phát triển của sản phẩm được gọi là “vòng đời hay chu kì sản phẩm” được chia làm 5 thời kỳ: Phát triển sản phẩm, giới thiệu, tăng trưởng, trưởng thành và suy thoái.

  1. Phát triển sản phẩm: công ty đã chi tiêu một khoản không nhỏ cho việc phát triển và nghiên cứu sản phẩm trong giai đoạn này.
  2. Giai đoạn giới thiệu sản phẩm: vì tên sản phẩm vẫn còn chưa được nhiều người biết đến, cho nên sản phẩm giai đoạn này hoàn toàn mới và cần bắt đầu được tung ra thị trường.
  3. Giai đoạn tăng trưởng: là khi công ty bắt đầu sản xuất thêm nhiều sản phẩm và đạt được đà bán hàng tốt.
  4. Giai đoạn trưởng thành: sản phẩm đang trên đường của giai đoạn chín muồi. Đó là giai đoạn không cần nhiều cho việc khuyếch trương sản phẩm để tăng doanh thu. Nhưng việc quảng bá sản phẩm sẽ không dừng lại khi có nhiều nhà cạnh tranh sẽ “hớt tay trên” mất vị trí dẫn đầu.
  5. Giai đoạn suy thoái: do số lượng đối thủ cạnh tranh trên thị trường tăng lên, việc cạnh tranh càng khốc liệt hơn trước. Thị phần sản phẩm bị thu hẹp.

Sản phẩm có vòng đời hạn chế, nó có thể trải qua rất nhiều giai đoạn với nhiều thách thức và thời cơ để kinh doanh. Chu kì sản phẩm có thể giúp doanh nghiệp xác lập rõ những tiềm năng tăng trưởng của sản phẩm. Cụ thể hơn, nó có thể tiến xa trên thị trường hoặc “chết”. Nó có thể đạt tới mức ổn định hay tiếp tục phát triển hay không là phụ thuộc vào nhu cầu đối với sản phẩm đó.

PLC là mô hình khá hữu dụng đối với các nhà quản lý với mục đích làm cho họ luôn không thoả mãn với những chiến lược quản lý và quảng bá sản phẩm của chính mình, giữ cho sản phẩm không ngừng tiến triển để đáp ứng khả năng thưởng thức cũng không ngừng đổi thay của khách hàng.

Trên đây là ba mô hình và khung chiến lược – công cụ không thể thiếu trong quản lý để củng cố, tăng cường vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.

Theo Strategic Business Planning





Nghệ thuật quản lý: Kế dương đông kích tây

9 08 2011

Tất cả 36 kế của Tôn Tử không chỉ hữu dụng cho đánh trận ngày xưa, mà vẫn còn được xem là những “tuyệt chiêu” trong quản trị nhân sự. Sổ tay quản lý sẽ lần lượt đề cập tới các kế sách đó trong việc quản trị nhân sự.

Kế Dương Đông kích Tây, nôm na là đánh lạc hướng đối phương, làm như định đánh vào phía Đông, nhưng thực chất lại đánh ở hướng Tây. Dương Đông kích Tây được ứng dụng nhiều trong các chiến thuật, đối kháng như đánh võ, chơi cờ, đá bóng, đàm phán…
 
Trong võ thuật, tung hư chiêu nhá bên phải để thu hút sự chú ý của đối phương vào bên phải rồi thình lình tung đòn ở bên trái rất thường được vận dụng. Trong đấu tranh, tạo tin đồn hay động thái làm rối tai rối mắt địch để buộc đối phương phải phân tán lực lượng vì phải lo đối phó nhiều mặt, rồi ra đòn chí tử vào điểm ít phòng vệ nhất cũng là chiến thuật thường gặp. Nguyên tắc của Dương Đông kích Tây là bí mật chủ động tạo sự bất ngờ, đẩy đối phương vào thế bị động. Khi áp dụng kế này, tuyệt đối tránh bị “lộ cơ”, tức là để đối phương biết trước được mình có dự định gì.

Trong lĩnh vực quản trị nhân sự, không phải nhiều người có sự đối chiếu áp dụng các kế sách thời xưa mà đôi khi vẫn vô tình vận dụng. Chẳng hạn kế Dương Đông kích Tây được áp dụng trong các cuộc phỏng vấn tuyển dụng mang tính gây áp lực để kiểm tra khả năng ứng phó và giữ bình tĩnh của ứng viên, để tìm hiểu bản chất và năng lực của ứng viên. Nhà tuyển dụng thật niềm nở hỏi han ứng viên đề nghị người ấy kể những câu chuyện cá nhân và kích thích người ấy hăng say kể chuyện và đến một tình tiết thích hợp, làm bộ sa sầm gay gắt hỏi xoáy hoặc phản bác lại một vấn đề nào đó.

Ngoài ra, Dương Đông kích Tây có thể dùng làm tăng thêm sự hãnh tiến của nhân viên để họ hết mình làm việc mà không đấu đá tranh giành quyền lợi hay quyền lực. Ví dụ, hô hào để nhân viên tin rằng mình là chủ của bộ phận, công việc, sản phẩm… để họ hăng hái làm việc và có trách nhiệm với công việc, nhưng người chủ thực sự chính là chủ doanh nghiệp – nhà đầu tư. Kế Dương Đông kích Tây trong quản trị nhân sự không nhằm mục đích hạ gục, đánh bại đối phương như trong chiến thuật đối kháng, mà chỉ nhằm mục đích để bộ máy nhân lực hoạt động theo ý đồ của nhà quản trị. Vì thế, quay trở lại ví dụ về tinh thần làm chủ của nhân viên, kế Dương Đông kích Tây sẽ phản tác dụng nếu tuyên bố đi ngược với hành động, nghĩa là ngoài mặt tuy bảo rằng nhân viên là chủ công việc nhưng lại không có quyền quyết định công việc thì dần dà, thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm với công việc ắt sẽ hiện ra. Một nhà quản lý chuyên nghiệp cần phải xây dựng được một môi trường mà mỗi nhân viên đều thực sự là chủ công việc, tự mình cảm thấy có trách nhiệm với công việc và nhiệt tình làm việc, mạnh dạn đóng góp ý kiến cũng như sáng kiến… Dương Đông kích Tây trong trường hợp này chỉ có ý nghĩa rằng người làm chủ chỉ có quyền làm cho bộ phận phát triển hơn chứ không phải có “quyền sinh, quyền sát” trong tay.

Một ứng dụng khác của Dương Đông kích Tây trong quản lý là giúp bảo mật kế hoạch công ty với đối thủ, làm cho mọi người ngỡ công việc đang xúc tiến theo một hướng nhưng vẫn phục vụ cho định hướng bí mật khác. Điều quan trọng nhất khi đó là phải thật khéo để tránh tinh thần nhân viên hoang mang, không biết phương hướng làm việc hoặc cảm thấy cấp trên không tin tưởng mình.

Một ứng dụng khác tuy rất hiệu quả nhưng hiếm khi nhà quản lý dùng đến và không ai mong muốn phải dùng đến là dùng kế Dương Đông kích Tây để lột trần những mặt xấu của nhân viên, để kiểm tra độ trung thành của họ (trường hợp này có thể cần áp dụng kèm thêm kế Thạch đầu vấn lộ) hoặc buộc nhân viên phải thôi việc hay chịu trách nhiệm về một vấn đề gì đó. Nói cách khác là tạo ra tình huống để người khác rối trí hay không đề phòng mà tự thể hiện rõ bản chất thật ra.





Nghệ thuật quản lý nhân sự

9 08 2011

- Để một bộ máy chạy tốt đòi hỏi từng mắt xích cũng phải tốt. Tương tự như vậy, các công ty muốn thành công cần có một đội ngũ nhân viên giỏi và nhiệt tình. Để được như vậy, phần lớn do nghệ thuật dùng người của người quản lý.

Quản lý nhân sự không tốt sẽ dẫn đến:

 

Sự bất mãn của nhân viên: Các nhân viên sẽ không còn sự hào hứng với công việc, tồi tệ hơn nữa họ sẽ cố tình phá hoại ngầm các hoạt động của công ty. Thậm chí, khi nói chuyện với khách hàng họ sẽ nói những điều không tốt về công ty.

 

Không tuân thủ các quy tắc: Các nhân viên sẽ không tôn trọng các quy tắc nữa, họ sẽ thường xuyên đi làm muộn, không tham gia các buổi họp và đi ăn trưa nhiều giờ đồng hồ.

 

“Đầu độc” môi trường làm việc: Họ sẽ tìm cách biến sự nhiệt tình, hào hứng với công việc của những người mới đến trở nên tiêu cực.

 

Nếu tìm được đúng đáp án cho bài toán quản lý nhân sự:

 

Sự nhiệt tình của nhân viên: Các nhân viên sẽ cảm thấy vui vẻ và luôn muốn tạo ra nhiều lợi nhuận hơn cho công ty vì bạn giúp họ hiểu rằng lợi nhuận của công ty tăng tỷ lệ thuận với lương của họ.

 

Luôn đi làm với ý thức trách nhiệm cao: Họ ý thức được rằng mỗi ngày lao động của họ đã đóng góp không chỉ cho họ, cho công ty họ mà còn cho sự phát triển của xã hội.

 

Luôn tin tưởng lẫn nhau: Các nhân viên làm việc với nhau trên tinh thần hợp tác và thân thiện, với sếp là sự tôn trọng giữa nhân viên cấp trên và cấp dưới.

 

Để việc quản lý nhân sự có hiệu quả, bạn cần tuân thủ những mục tiêu sau:

 

Công bằng: Khi áp dụng bất kỳ chính sách nào bạn cần phải tìm hiểu xem liệu chúng có phù hợp với nhân viên hay không? Đảm bảo tiền lương, thưởng, thủ tục trả lương và môi trường làm việc phù hợp với tiêu chuẩn luật pháp đưa ra.

 

Biết cách khuyến khích nhân viên: Khi nhân viên nào đó có đóng góp đặc biệt cho công ty cần có chế độ thưởng và khen ngợi tức thì. Cần tìm ra liệu điều gì sẽ thúc đẩy các nhân viên làm việc nhiệt tình và có trách nhiệm. Đôi khi bạn nên tổ chức cho mọi người một buổi tiệc nhỏ để giúp giảm bớt căng thẳng và mọi người có cơ hội trò chuyện với nhau nhiều hơn.

 

Thái độ của sếp: Cách cư xử của sếp chính là yếu tố cần thiết để tạo ra thành công. Nếu sếp luôn đối xử với nhân viên trên tin trọng lẫn nhau và một thái độ tích cực thì sếp sẽ có những nhân viên làm việc năng suất thực sự.

 

Thủy Nguyễn

Theo EZINE








Follow

Get every new post delivered to your Inbox.