Nữ hoàng may mặc thế giới

25 11 2011
Nhắc đến ngành thời trang thì không thể nào không nhắc đến , người đứng đầu tập đoàn gia công và sản xuất quần áo Esquel China Holdings, nhà sản xuất quần áo lớn dám sánh vai cùng Hugo Boss, Polo, Tommy Hilfiger, Nordstrom và Abercrombie & Fitch.

Người phụ nữ 54 tuổi này có một ý chí kiên cường và tài lãnh đạo cũng như kinh doanh đáng nể, khi đưa được công ty may mặc vô danh của mình thành hãng sản xuất lớn. Marjorie Yang không hổ danh là con nhà nòi. Cha chị là ông chủ một công ty may mặc lớn ở Hong Kong.

Từ nhỏ, Marjorie Yang đã sống trong môi trường thời trang, vải vóc và lao động cật lực. Sau khi sang Mỹ du học và tốt nghiệp thạc sĩ quản trị kinh doanh của Đại học Harvard, Marjorie Yang đã trở về nhà giúp cha mình thành lập tập đoàn may mặc Esquel, năm 1978. Trong thời gian ngắn, Marjorie Yang đã nắm bắt được cung cách kinh doanh của công ty và có ý tưởng đổi mới, ứng dụng công nghệ trong mọi quy trình hoạt động để thay thế dây chuyền sản xuất thủ công.

Gần 30 năm là khoảng thời gian cô phấn đấu để chứng tỏ quan điểm của mình, với phương thức quản lý công nghiệp theo phong cách phương Tây hòa quyện với năng lực kinh doanh của người châu Á. Và khi đạt được 600 triệu sản phẩm mỗi năm thì mọi người mới công nhận chị có cái nhìn rất xa, và không một chút hoang tưởng nào.

Hiện nay, với 9 nhà máy đặt rải rác trên thế giới và hơn 47.000 công nhân, Esquel có mức doanh thu trên 600 triệu USD/năm. Marjorie biết nắm bắt thời cơ kịp thời khi nhận ra rằng thị trường Trung Quốc có tiềm năng lớn, nhu cầu các sản phẩm làm từ vải sợi bông thô đang ngày một tăng cao và ảnh hưởng này đang lan rộng, sẽ là bàn đạp cho Esquel phát triển sang các nước khác.

Thế là Marjorie mua ngay 12.000 ha đất tại Xinjiang để làm xưởng đóng gói, xuất khẩu và bán lẻ các sản phẩm hoàn chỉnh của tập đoàn. Người ta có thể tìm thấy những chiếc áo sơ mi giá trung bình chỉ 50 USD mang nhiều nhãn hiệu nổi tiếng “made in France”, “made in Italy”, song thực tế thì gần như mọi công đoạn – từ quá trình tạo ra sản phẩm như trồng bông, kéo sợi… lại được thực hiện trong các nhà máy của Esquel ở Trung Quốc và Hong Kong. Khâu cuối cùng được công nhân các nước thực hiện là khâu hoàn chỉnh sản phẩm.

Là chủ tịch tập đoàn lớn, nhưng Marjorie luôn tỏ ra là một bà chủ tốt trong mối quan hệ với nhân viên thông qua việc chăm sóc sức khỏe, mức độ lương bổng, cải thiện môi trường làm việc, mở các khóa đào tạo cho nhân viên và con cái họ, cấp học bổng cho học sinh giỏi… “Không có công nhân thì tôi chẳng là gì cả. Công sức của họ phải được đền bù một cách xứng đáng”, Marjorie nói giản dị.





Chàng triệu phú ‘online’ của Trung quốc

25 11 2011
25 tuổi, là giám đốc điều hành của Công ty PCPOP với doanh thu 20 triệu nhân dân tệ/năm, Li Xiang, một trong những triệu phú trẻ nhất Trung Quốc, đã chứng minh sức mạnh của việc nắm bắt thời cơ và niềm đam mê thực sự.
Mùa hè năm 1999, trong khi 3 triệu sinh viên Trung Quốc đang ngập đầu với kỳ thi đại học, thì Li Xiang, khi đó 18 tuổi, quyết định tập trung vào công việc kinh doanh trang web của mình.

Chính vào thời điểm đó, anh nhận ra rằng: “Trang web của tôi sẽ chết nếu tôi đi học đại học. Đây là cơ hội tuyệt vời để khởi nghiệp, và thời cơ có thể biến mất trong 2 năm”, Li Xiang, hiện là giám đốc điều hành (CEO) của PCPOP, cho biết.

Cậu học sinh Li Xiang đã có thể kiếm được 6.000 nhân dân tệ mỗi tháng từ hoạt động quảng cáo trên trang web của anh.“Số tiền đó cao hơn thu nhập hằng tháng của cả hai bố mẹ tôi cộng lại”, Li nhớ lại.

PCPOP là trang web cung cấp dịch vụ quảng cáo nhãn hiệu các sản phẩm công nghệ thông tin cho người dùng và thương nhân trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Doanh thu trong năm qua của công ty là 20 triệu nhân dân tệ (tương đương 40 tỷ đồng Việt Nam) với tổng lợi nhuận 10 triệu nhân dân tệ.

Năm 2000, Li Xiang đăng ký trang web PCPOP bằng 10.000 nhân dân tệ tiền tiết kiệm từ 3 năm hoạt động trang web của mình và chuyển tới Bắc Kinh vào cuối năm 2001. Doanh thu của trang web đạt tới 500.000 nhân dân tệ trong năm 2002, gấp 4 lần vào năm 2003 và đạt tới con số 20 triệu nhân dân tệ năm 2005.

Tuy nhiên mọi chuyện không phải lúc nào cũng dễ dàng. Trong năm 2000, khi sự kiện “bong bóng Internet” tan vỡ và nhiều công ty IT bị phá sản, Li đã mất tất cả quảng cáo trên trang web của mình. “Tôi không hề nghĩ đến việc từ bỏ”, Li nói, và cho biết anh đã dành tất cả số tiền có được để hỗ trợ trang web.

Ngài CEO và bữa trưa 20.000 đồng

Hiện Li làm việc tại công ty của anh vào các ngày thường và học chuyên ngành quản trị vào cuối tuần.

Mặc dù là một trong những triệu phú trẻ nhất Trung Quốc, Li Xiang có một cuộc sống rất giản dị. Anh thường chống đẩy 30 lần trước khi đi ngủ vào lúc 1h30 sáng và dậy lúc 7h30 để ăn tại căngtin của cơ quan, nơi mỗi bữa ăn có giá 10-12 nhân dân tệ (20.000 đồng).

Công ty của Li hiện có 130 nhân viên, tuổi đời trung bình 24. Các nhân viên thông thường phải nộp 50 nhân dân tệ nếu đi làm muộn, còn với các quản lý, tiền phạt là 500 nhân dân tệ. “Tôi bị bắt vài lần rồi”, Li nói và cười.

Trên tường trong công ty của Li treo các bảng với các mục tiêu hằng tháng và tình hình thành tích của mỗi phòng ban, thậm chí là mỗi người. Li nhấn mạnh rằng mỗi người phải có những mục tiêu rõ ràng để thực hiện.

Ly cho biết mục tiêu của công ty là “doanh thu của năm nay gấp đôi năm trước, vượt qua con số 100 triệu nhân dân tệ (200 tỷ đồng) vào năm tới, và trở thành tập đoàn truyền thông lớn mạnh nhất sau 3 năm”.

Li Xiang không thích được so sánh với các tên tuổi lớn trong kinh doanh. “Tôi chỉ là một người trẻ tuổi khởi nghiệp sớm hơn những người khác mà thôi”, Li cho biết.





Quản lý hiệu quả cùng mô hình SWOT, STEEPLE và PLC

12 08 2011

quan ly hieu qua cung mo hinh SWOT Quản lý hiệu quả cùng mô hình SWOT, STEEPLE và PLCThuật ngữ SWOT này đã khá quen thuộc với giới kinh doanh, nó là từ viết tắt của 4 yếu tố: strengths (S) – điểm mạnh, weaknesses (W) – điểm yếu, và các nhân tố tác động bên ngoài như thời cơ (opportunities – O) hay mối nguy hại (threats – T).

STEEPLE lấy từ chữ cái đầu của các từ tiếng anh khi chuyển nghĩa sang tiếng Việt có nghĩa là: văn hoá – xã hội, công nghệ, kinh tế, môi trường, chính trị, kinh doanh điện tử và khung pháp lý.

Và cuối cùng là khuôn mẫu PLC: Product Life Cycles: vòng đời sản phẩm.

Bản phân tích SWOT đóng vai trò rất quan trọng trong việc bắt kịp những chiến lược vì công việc kinh doanh đã được lên kế hoạch. Ví như, nắm rõ được những mối nguy hại cho doanh nghiệp: biết sớm được mối cạnh tranh có thể giúp doanh nghiệp tháo gỡ được nó tốt hơn. Điều này có thể được tiến hành bằng việc quảng bá những ưu điểm của sản phẩm và làm mờ đi những khuyết điểm. Bản phân tích SWOT cũng có thể giúp công ty chuẩn bị sẵn sàng các nguồn lực và khả năng với mưu đồ cạnh tranh của đối thủ.

Bản phân tích STEEPLE mở ra cho doanh nghiệp những xu hướng tương lai có thể đoán trước. Điều này giúp doanh nghiệp xác định được những yếu tố có khả năng ảnh hưởng tới công việc kinh doanh trong những năm tới.

Nhân tố văn hoá – xã hội có thể bao gồm yếu tốt địa lý dân số, phân bổ thu nhập, thay đổi phong cách sống, trình độ giáo dục. Nhân tố công nghệ là việc nghiên cứu, phát triển những công nghệ mới, chuyển đổi cơ chế công nghệ. Nhân tố môi trường liên quan đến các đạo luật bảo vệ môi trường, các chính sách môi trường của các nhà chức trách địa phương. Còn nhân tố kinh tế bao gồm các chu kì phát triển kinh doanh, các xu hướng tổng sản phẩm quốc dân, tỉ lệ lãi suất, lạm phát, thất nghiệp, thu nhập.

Nhân tố chính trị là sự ổn định của chính phủ, các điều lệ thương mại quốc tế, chính sách thuế. Nhân tố luật pháp bao gồm hệ thống pháp luật độc quyền, các luật lệ làm việc và luật liên quan đến phân biệt đối xử. Nhân tố đạo đức gắn liền với những chuẩn mực đạo đức, tinh thần quản lý các chính sách và điều lệ của doanh nghiệp. Bản phân tích STEEPLE vạch rõ những vấn đề mấu chốt tác động đến công ty và những vấn đề này sẽ tác động tới các chiến lược kinh doanh như thế nào.

Mô hình PLC gắn với chu kỳ dòng sản phẩm trên thị trường. Mỗi sản phẩm đều có một “vòng đời” giống như một cơ quan sống, sản phẩm sẽ phát triển và trưởng thành rồi suy thoái. Các giai đoạn phát triển của sản phẩm được gọi là “vòng đời hay chu kì sản phẩm” được chia làm 5 thời kỳ: Phát triển sản phẩm, giới thiệu, tăng trưởng, trưởng thành và suy thoái.

  1. Phát triển sản phẩm: công ty đã chi tiêu một khoản không nhỏ cho việc phát triển và nghiên cứu sản phẩm trong giai đoạn này.
  2. Giai đoạn giới thiệu sản phẩm: vì tên sản phẩm vẫn còn chưa được nhiều người biết đến, cho nên sản phẩm giai đoạn này hoàn toàn mới và cần bắt đầu được tung ra thị trường.
  3. Giai đoạn tăng trưởng: là khi công ty bắt đầu sản xuất thêm nhiều sản phẩm và đạt được đà bán hàng tốt.
  4. Giai đoạn trưởng thành: sản phẩm đang trên đường của giai đoạn chín muồi. Đó là giai đoạn không cần nhiều cho việc khuyếch trương sản phẩm để tăng doanh thu. Nhưng việc quảng bá sản phẩm sẽ không dừng lại khi có nhiều nhà cạnh tranh sẽ “hớt tay trên” mất vị trí dẫn đầu.
  5. Giai đoạn suy thoái: do số lượng đối thủ cạnh tranh trên thị trường tăng lên, việc cạnh tranh càng khốc liệt hơn trước. Thị phần sản phẩm bị thu hẹp.

Sản phẩm có vòng đời hạn chế, nó có thể trải qua rất nhiều giai đoạn với nhiều thách thức và thời cơ để kinh doanh. Chu kì sản phẩm có thể giúp doanh nghiệp xác lập rõ những tiềm năng tăng trưởng của sản phẩm. Cụ thể hơn, nó có thể tiến xa trên thị trường hoặc “chết”. Nó có thể đạt tới mức ổn định hay tiếp tục phát triển hay không là phụ thuộc vào nhu cầu đối với sản phẩm đó.

PLC là mô hình khá hữu dụng đối với các nhà quản lý với mục đích làm cho họ luôn không thoả mãn với những chiến lược quản lý và quảng bá sản phẩm của chính mình, giữ cho sản phẩm không ngừng tiến triển để đáp ứng khả năng thưởng thức cũng không ngừng đổi thay của khách hàng.

Trên đây là ba mô hình và khung chiến lược – công cụ không thể thiếu trong quản lý để củng cố, tăng cường vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.

Theo Strategic Business Planning








Follow

Get every new post delivered to your Inbox.