Các tiêu chí đánh giá hệ thống quản lý áp dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

1 12 2011
Đối với một doanh nghiệp, việc đánh giá được điểm yếu, điểm mạnh của doanh nghiệp mình trong hệ thống quản lý là yếu tố quan trọng để từ đó có thể đưa ra được các biện pháp cải tiến phù hợp. Trong chương trình tư vấn hỗ trợ các doanh nghiệp trong khu vực sông Mêkông của Trung tâm Năng suất Nhật bản vì sự phát triển của kinh tế xã hội đã đưa ra 40 tiêu chí cơ bản để đánh giá hệ thống quản lý áp dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Các tiêu chí này được xây dựng với mục đích giúp cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) đánh giá hoạt động của doanh nghiệp mình và tự tìm ra những hoạt động cải tiến và các giám đốc của SME chuẩn bị những tài liệu cần thiết để vay vốn ngân hàng.

Các tiêu chí được lựa chọn các chức năng quản lý của công ty được chia thành 4 chức năng chính: quản lý chung, quản lý nguồn nhân lực, marketing, sản xuất, chất lượng và tài chính.

Tài liệu này rất hữu ích cho các lãnh đạo Doanh nghiệp Vừa và Nhỏ để tự đánh giá Hiệu quả Hoạt động Quản lý chất lượng đối với việc sản xuất kinh doanh, từ đó rút ra các biện pháp cải tiến Chất lượng nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm, chất lượng công việc, tăng doanh thu, lợi nhuận, giảm giá thành, tăng tính cạnh tranh, …

Tài liệu này cũng phù hợp đối với sinh viên, nhà nghiên cứu Hệ thống quản lý chất lượng nhằm nghiên cứu cách thức đánh giá Hiệu quả, tác động của Hệ thống quản lý chất lượng lên doanh nghiệp và cũng hữu ích khi nghiên cứu các cách thức, phương pháp quản lý mới trong việc ứng dụng các công cụ quản lý mới và cũ.

Đối với một doanh nghiệp, việc đánh giá được điểm yếu, điểm mạnh của doanh nghiệp mình trong hệ thống quản lý là yếu tố quan trọng để từ đó có thể đưa ra được các biện pháp cải tiến phù hợp. Trong chương trình tư vấn hỗ trợ các doanh nghiệp trong khu vực sông Mêkông của Trung tâm Năng suất Nhật bản vì sự phát triển của kinh tế xã hội đã đưa ra 40 tiêu chí cơ bản để đánh giá hệ thống quản lý áp dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Các tiêu chí này được xây dựng với mục đích giúp cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) đánh giá hoạt động của doanh nghiệp mình và tự tìm ra những hoạt động cải tiến và các giám đốc của SME chuẩn bị những tài liệu cần thiết để vay vốn ngân hàng.

Các tiêu chí được lựa chọn các chức năng quản lý của công ty được chia thành 4 chức năng chính: quản lý chung, quản lý nguồn nhân lực, marketing, sản xuất, chất lượng và tài chính.

1. Quản lý chung

1.1 Lãi gộp (Margin)

Lãi gộp là chênh lệch giữa chi phí nhân công, nguyên liệu và nhiên liệu sản xuất ra một sản phẩm với giá bán buôn của sản phẩm đó.

Lãi gộp = Doanh số bán hàng – Các chi phí sản xuất.

Nó là một thước đo sự hiệu quả của một công ty trong việc chuyển nguyên liệu thô thành thu nhập thể hiện mức độ lợi nhuận của công ty ở mức độ cơ bản nhất.

Tỷ lệ lãi gộp trên 50% là tuyệt vời và trên 40% là hợp lý.  

Tỷ lệ chi phí nhân công/ lãi gộp (%) nên được giữ dưới mức 40 -50%.

1.2 Các kế hoạch kinh doanh (business plans)

Kế hoạch kinh doanh là một tài liệu thể hiện các chỉ tiêu cần phải đạt được của một công ty trong một/ nhiều năm tài chính nào đó. Một công ty nên có cả các kế hoạch kinh doanh ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Việc lập các kế hoạch kinh doanh là cần thiết vì qua đó có thể

- ước tính được chi phí cho nguồn nhân lực

- ước tính được doanh thu trong tương lai

- đoán được tổng lợi nhuận cận biên.

Khoảng cách giữa mục tiêu và thực tế thể hiện năng lực quản lý và nếu khoảng cách này nhỏ có nghĩa là sự quan sát quản lý năng lực bên trong và môi trường bên ngoài là chính xác.

1.3 Điểm mạnh, điểm yếu của một công ty (Strengths and Weaknesses (Problems ) of  a company)

SWOT viết tắt của điểm mạnh (strengths), điểm yếu (weaknesses), cơ hội (opportunities) và thách thức (threats).

Một công ty có thể phát triển một kế hoạch cần xem xét rất nhiều các yếu tố bên trong và bên ngoài khác nhau, và tối đa hoá tiềm năng của các thế mạnh và cơ hội đồng thời phải giảm thiểu tác động của những điểm yếu và thách thức. Phân tích này có thể cho thấy khoảng cách giữa mức độ năng lực hiện tại của công ty và mức độ mục tiêu của công ty được đặt ra trong các kế hoạch kinh doanh.

1.4 Công nghệ (technology)

Trình độ công nghệ thể hiện khả năng sản xuất của công ty. Tiêu chí Công nghệ thể hiện một công ty cần đồng bộ hoá công nghệ (sở hữu công nghệ riêng có, công nghệ quản lý và công nghệ nâng cao đẳng cấp) về máy móc, trang thiết bị và các kỹ năng của con người.

1.5 Doanh thu thuần trước thuế (NIBT) Net Income Before Tax (NIBT)  

Doanh thu bán hàng

Chi phí sản xuất

Lãi gộp

 

Chi phí hành chính và bán hàng

NIBT

 

 

 

 

NIBT là một thước đo lợi nhuận trước thuế được thể hiện như sau:    

Tỷ lệ % NIBT/giá trị tài sản là một trong những thước đo đánh giá mức độ lợi nhuận của một công ty. Bất kể NIBT là tích cực hay tiêu cực, cần thiết phải có một phân tích đầy đủ về nó.  

2. Quản lý nguồn nhân lực

2.1 Phân bổ số lượng nhân công hợp lý cho từng công việc (Allocation of appropriate number of workers at each job)

Việc sử dụng lao động vừa năng suất vừa hiệu quả phù hợp với trang thiết bị/ máy móc sẽ đem đến sản xuất hiệu quả. Nếu sử dụng vượt quá số lao động cần thiết cho một công việc cụ thể sẽ không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây khó khăn cho quá trình sản xuất. Mặt khác, sử dụng thiếu lao động cần thiết sẽ làm giảm năng suất của quá trình sản xuất.                

2.2 Chi phí lao động (Labor Costs)

Chi phí lao động gồm lương cơ bản, làm thêm giờ, chi phí phúc lợi bắt buộc và không bắt buộc và chi phí đào tạo.

Nhà quản lý cần biết tổng chi phí lao động để xác định:  

- Mức độ mà một công ty có thể trả cho lao động theo tỷ lệ phù hợp với lợi nhuận của công ty.         

- Đảm bảo chi phí nhân công hợp lý và phân bổ chi phí nhân công theo hiệu quả hoạt động của từng công nhân.

2.3 Vắng không lý do và tỷ lệ vắng mặt (Absenteeism Without Notice and Separation Rate)

Tỷ lệ vắng mặt thể hiện số lượng công nhân vắng khỏi công ty trong một khoảng thời gian nhất định (một tháng hoặc một năm).

Tỷ lệ “Vắng không lý do” là một chỉ số về ý thức và suy nghĩ của một cá nhân về công việc, công ty và những công nhân khác

Cả tỷ lệ vắng không lý do và vắng mặt cao đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và hiệu quả hoạt động chung của công ty.

2.5 Chia sẻ lợi nhuận (PS)/thành quả (GS) (Profit Sharing(PS)/Gain Sharing(GS)

Trong số các công cụ, đây là công cụ khuyến khích hiệu quả và hữu dụng nhất hướng tới kết quả cao hơn trong các hoạt động cải tiến năng suất. PS/GS giúp khuyến khích và động viên nhân viên tự xem mình gắn kết với công ty trong việc xây dựng mối quan tâm chung đối với sự phát triển, lợi nhuận và sự thịnh vượng của công ty. Động viên được coi là một yếu tố chính – một nhân viên được “khích lệ” sẽ có năng suất cao hơn. Nhân viên được khuyến khích sẽ sẵn lòng hơn với công việc, làm việc hiệu quả hơn mà không cần giám sát và có tư duy luôn đặt câu hỏi và giải quyết vấn đề.

2.6 Đào tạo/Giáo dục cho nhân viên (training and education)

ở đây, tầm quan trọng của đào tạo nhân viên nên nhấn mạnh vào hai khía cạnh, đó là “Đào tạo nhận thức cho công nhân và Đào tạo về giải quyết vấn đề và ra quyết định cho quản đốc và lãnh đạo cấp trung”.

3. Marketing

Doanh số của sản phẩm chính (Sales Revenue of Main Products).

Một công ty phải nắm được doanh số về sản phẩm chính của mình, về số lượng và doanh thu một cách thường xuyên, nghĩa là hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng quý, sáu tháng và một năm theo sản phẩm và theo kênh bán hàng (khách hàng).

Đây là thông tin cơ bản cho sản phẩm, giá cả, kế hoạch kinh doanh, nâng cấp công nghệ, phát triển sản phẩm mới v.v.. Do đó việc phân tích cần phải toàn diện, trong đó không chỉ số lượng và doanh thu mà cả giá cả và kênh phân phối cũng phải được xem xét đến. Nắm rõ được xu hướng bán sản phẩm chính của mình, công ty có thể thấy được cái gì đang thay đổi trên thị trường và đánh giá được công ty cần phải làm gì để đối phó với những thay đổi đó.

Quan hệ với những khách hàng chính (Relations with Main Customers).

Để tồn tại và giàu có trong môi trường kinh doanh khó khăn ngày nay, tập trung vào khách hàng là yếu tố quan trọng, chìa khóa cho sự thành công là làm cho khách hàng hài lòng và cảm thấy thỏa mãn đến mức họ sẽ muốn trung thành mãi mãi.

Trong sản xuất, sự thỏa mãn của khách hàng được đo lường qua PQCD, là Giá cả, Chất lượng, Chi phí và Vận chuyển. Nếu công ty có quan hệ tốt với khách hàng chính của mình thì những thông tin của khách hàng có thể là cơ sở cho dự đoán về bán hàng và sự thỏa mãn của khách hàng trong tương lai.

Các đối thủ cạnh tranh trong thị trường sản phẩm chính (Competitors in Main Products Market).

Để duy trì các khách hàng đối với sản phẩm chính, công ty cần có lợi thế cạnh trong trong PQCD đối với các sản phẩm đó. Nếu như mất đi lợi thế cạnh tranh đối với các sản phẩm chính thì công ty đã tự mình rút khỏi thị trường, vì vậy việc xem xét các đối thủ cạnh tranh là rất quan trọng.

Phát triển sản phẩm mới (New product development).

Sự thành công trong tương lai của một công ty phụ thuộc vào khả năng phát triển sản phẩm mới. Thành công của việc phát triển sản phẩm mới phụ thuộc vào những quyết định phức tạp và khó khăn của lãnh đạo trên 3 câu hỏi: “Phát triển sản phẩm gì”, “tại sao lại phát triển sản phẩm đó” và “phát triển sản phẩm đó như thế nào”.

Các kênh bán hàng (Sales Channels).

Kênh bán hàng sẵn có của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) thường hạn chế vì trở ngại về tài chính. Nhìn chung các SMEs không thể cố gắng thiết lập các kênh bán hàng riêng của mình và mở các chiến dịch bán hàng rầm rộ. Trong nhiều trường hợp, họ bán hàng thông qua các công ty thương mại vừa và nhỏ hoặc các đại lý bán buôn trong khu vực hoặc bán trực tiếp cho khách hàng hoặc các công ty có quan hệ với khách hàng. 

Hiệu quả và khả năng sinh lợi của một công ty sẽ khác nhau rất nhiều phụ thuộc vào các kênh bán hàng. 

4. Quản lý sản xuất

4.1 Sản lượng bình quân đầu người (Production volume per person)

Sản lượng bình quân đầu người = Tổng sản lượng/ Số người lao động

Chỉ số sản lượng bình quân đầu người sẽ cho biết:

- tình hình sản xuất có diễn ra trôi chảy hay không;

- năng suất hoạt động của nhà máy.

- kết quả cải tiến bằng cách tính toán và so sánh chỉ số sản lượng bình quân đầu người trước và sau khi tiến hành chương trình cải tiến (KAIZEN) và so sánh được với các đối thủ cạnh tranh để có những cải tiến phù hợp.

4.2 Tần suất giao hàng chậm (Frequency of delayed deliveries)

“Giao hàng chậm” là các lần giao hàng cho khách hàng quá thời hạn quy định. “Tần suất giao hàng chậm” là số lần giao hàng chậm xảy ra trong một tháng.

Tần suất giao hàng chậm là một thông tin cần thiết vì lý do:

1) Việc giao hàng chậm sẽ dẫn đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của khách hàng bị chậm và cũng dẫn đến việc công ty sẽ bị mất lòng tin của khách hàng. Các giao dịch hiện tại có thể bị chấm dứt trong tương lai gần nếu việc giao hàng chậm tiếp tục tái diễn.

2) Giao hàng là một trong những nhân tố cơ bản thúc đẩy nâng cao năng suất. Giao hàng chậm sẽ gây xáo trộn sản xuất của công ty và giảm năng suất.

4.3 Quá trình sản xuất ổn định, được chuẩn hoá (Smooth/standardized production processes)

“Quá trình sản xuất ổn định” là mức độ ổn định của sản phẩm được sản xuất ra không phát sinh bất kỳ vấn đề gì trong quá trình, và số lượng quá trình được chuẩn hoá.

Công ty cần biết mức độ ổn định và chuẩn hoá của các quá trình giúp cho công ty xác định được quá trình hiện tại đạt mức độ nào trong số bốn mức độ dưới đây:

1) Việc kiểm soát quá trình được thực hiện có sự giám sát, hướng dẫn

2) Các quá trình hoàn toàn được chuẩn hoá

3) Các quá trình được cải tiến tốt

4) Bạn biết được có những dạng vấn đề gì xảy ra tại các quá trình.

Nếu quá trình không thực hiện một cách trôi chảy, điều đó có nghĩa có vấn đề nào đó đã xảy ra, nếu máy móc bị dừng thường xuyên, năng suất lao động sẽ suy giảm, chi phí tăng lên, chất lượng kém đi và việc giao hàng cũng trở nên không ổn định. Điều này sẽ không tốt cho sự an toàn và tinh thần làm việc của người công nhân.

4.4 Kế hoạch sản xuất và kết quả đạt được (Production plans and their achievement)

“Kế hoạch sản xuất” được hiểu là kế hoạch sản xuất hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, trung hạn và dài hạn. Thông thường, cần 3 loại kế hoạch sản xuất, như kế hoạch hàng ngày, hàng tháng và hàng quý. 

Mức độ kết quả đạt được được tính bằng tỷ lệ phần trăm số đơn hàng hoàn thành đúng thời hạn

Kế hoạch sản xuất là cần thiết nhằm giúp đạt được hiệu quả sản xuất cao. Lãng phí (Muda) sẽ lớn nếu không có kế hoạch sản xuất.

4.5 Vấn đề về phía nhà cung cấp liên quan đến chi phí nguyên vật liệu, ngày giao hàng và chất lượng sản phẩm (Supply-side problems regarding material cost, delivery date & product quality)

Đối với công ty sản xuất, có nhiều trường hợp vấn đề của công ty là do phía nhà cung cấp. Nếu nhà cung cấp có vấn đề đối với nguyên vật liệu cung cấp cho công ty liên quan đến các yếu tố chất lượng (Q), chi phí (C) và giao hàng (D), khi đó công ty sản xuất sẽ bị ảnh hưởng bởi nguồn nguyên vật liệu thô kém chất lượng

Do đó, công ty sản xuất cần phải quản lý tốt các yếu tố chất lượng, chi phí và giao hàng của nhà cung cấp cũng như của chính bản thân công ty.

4.6 Giám đốc và cán bộ phụ trách hoạt động cải tiến (KAIZEN) (KAIZEN manager and staff)

KAIZEN là các hoạt động nhằm nâng cao năng suất bằng cách giải quyết những vấn đề như PQCDSM (Sản xuất – P, Chất lượng – Q, Chi phí – C, Giao hàng – D, An toàn – S và Tinh thần – M).

KAIZEN là các hoạt động cần thời gian dài, do vậy khó có thể tiếp tục và thành công trong hoạt động KAIZEN mà không có sự cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo cao nhất cũng như có cán bộ quản lý và nhân viên phụ trách.

Giám đốc và cán bộ KAIZEN là người phụ trách trong dự án, và thúc đẩy đào tạo cho các thành viên, thiết lập mục đích, mục tiêu, kế hoạch

4.7 Số lần máy hỏng (The number of breakdowns)

Thể hiện tần suất máy hỏng trong một tháng hoặc một năm. Máy móc không hoạt động hết thời gian vì bị trục trặc, thời gian chết,…

Có 7 loại thiệt hại làm giảm hiệu quả hoạt động của máy móc (thiệt hại do hỏng, thiết hại do giảm tốc độ,…) trong đó thiệt hại do thiết bị hỏng là thiệt hại lớn nhất. Do vậy, cần thiết phải giảm các trường hợp máy hỏng.

Nhằm mục đích đó, việc nắm bắt được tình trạng hỏng hóc của máy móc thiết bị là cần thiết. Tần suất hỏng thiết bị được thể hiện thông qua:  

- Tổng số trường hợp máy hỏng trong một tháng,   

- Số lần máy hỏng trong một tháng đối với mỗi máy,  

- Tổng số giờ máy hỏng trong một tháng  

- Số giờ máy hỏng trong một tháng đối với mỗi máy.  

4.8 Bảo trì máy móc thiết bị (Maintenance of machines and equipment)  

Bảo trì máy móc có nghĩa là việc bảo quản máy móc để giữ cho máy móc luôn ở trong điều kiện tốt nhất bằng cách làm vệ sinh, lau dầu và các công việc khác bao gồm cả việc sửa chữa máy móc.

Bảo trì tốt là cần thiết cho máy móc và thiết bị. Việc bảo trì tồi có thể dẫn đến máy móc bị hỏng thường xuyên và tuổi thọ của máy bị rút ngắn, năng suất giảm. Khi được bảo trì tốt, máy móc không bị trục trặc thường xuyên nữa và việc bảo trì tốt còn giúp phát hiện ra vấn đề ngay khi còn đơn giản và chúng ta có thể sửa chữa dễ dàng.  

4.9 Triển khai 5S (Implementation of 5S)  

5S có liên quan mật thiết đến Chất lượng, chi phí, giao hang, an toàn, tinh thần lao động và năng suất. Nếu không thành công trong hoạt động 5S, không thể thành công trong KAIZEN cũng như trong việc cải tiến năng suất.

4.10 Tình trạng hoạt động của công nhân và máy móc (State of operation of workers and machines)  

Có nhiều loại trạng thái hoạt động, trong đó có những tình trạng hoạt động không năng suất. Hoạt động của công nhân được phân loại như sau:  

- Vận hành máy móc.  

- Kiểm tra.  

- Bố trí.  

- Chờ đợi nguyên vật liệu hoặc công việc từ các quá trình trước đó.  

- Làm lại.  

- Sửa chữa máy móc.  

- Hoạt động khác.  

Chỉ tiêu này có ý nghĩa như sau: Để tăng tỷ lệ hoạt động có năng suất, phải giảm những công việc năng suất thấp và giảm lãng phí. Để làm được điều đó, chúng ta cần biết được hiện tại công nhân và máy móc đang hoạt động như thế nào.

4.11 Quản lý và giảm thiểu chi phí sản xuất (Manufacturing cost monitoring and reduction)  

Chi phí sản xuất là chi phí để nhằm sản xuất ra sản phẩm, bao gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí lao động và các chi tiêu khác.

Biết rõ được chi phí của các sản phẩm sản xuất ra là nền tảng cơ bản của hoạt động kinh doanh. Biết được chi phí sản xuất để xác định mức giá bán và lập kế hoạch kinh doanh.  

Công ty cần giảm chi phí thông qua hoạt động KAIZEN dựa trên kế hoạch giảm chi phí dài hạn, và bằng cách thu thập dữ liệu về chi phí, chúng ta có thể biết kết quả của hoạt động KAIZEN.  

4.12 Hàng lưu kho (nguyên vật liệu thô, sản phẩm và bán thành phẩm)  

Là số ngày công ty lưu giữ hàng lưu kho. Hàng lưu kho bao gồm:  

(1) Nguyên vật liệu thô và chi tiết trong kho.  

(2) Bán thành phẩm (WIP).  

(3) Thành phẩm trong kho.  

Công ty cần biết mức lưu kho thích hợp và đảm bảo ở mức lưu kho thích hợp đó. Nếu lượng lưu kho quá thấp, sản xuất sẽ thường xuyên bị ngừng do thiếu nguyên vật liệu. Nếu lượng lưu kho quá lớn, vấn đề sẽ phát sinh như chi phí tăng. Lưu kho quá nhiều sẽ làm tăng những chi phí như:   

(1) Vốn bị đọng vào các sản phẩm lưu kho.   

2) Việc quản lý lưu kho cũng mất nhiều chi phí. Công ty phải xây dựng hoặc thuê kho để lưu giữ hàng hoá. Công ty cũng phải thuê nhân viên quản lý kho. Công ty phải mua bàn làm việc, mua máy tính, phải mua xe tải để vận chuyển hàng lưu kho giữa các nhà kho và giữa các phân xưởng nhà máy.   

(3) Nếu việc lưu kho kéo dài sẽ dẫn đến suy giảm chất lượng và giá trị hàng sẽ bị giảm.   

(4) Nếu một mẫu sản phẩm mới bị lưu trong kho quá lâu sẽ trở nên lỗi mốt và không thể bán được ở mức giá mong đợi.  

Vì thế việc quản lý kho và lưu kho ở mức độ hợp lý là rất cần thiết.     

5. Chất lượng  

5.1 Tỷ lệ nguyên vật liệu chính đầu vào không phù hợp (Defect rate of major raw materials received)  

Tỷ lệ nguyên vật liệu chính đầu vào không phù hợp là tỷ lệ phần trăm nguyên vật liệu thô, chi tiết hoặc bán thành phẩm không phù hợp trên tổng số đầu vào nhận được. 

Để sản xuất được hàng đạt chất lượng tốt đòi hỏi nguyên vật liệu thô cũng như các quá trình sản xuất phải phù hợp với các tiêu chí kỹ thuật. Vì vậy việc kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu đầu vào, các chi tiết hoặc các bán thành phẩm là cơ sở của việc kiểm soát chất lượng sản phẩm. 

5.2 Tỷ lệ khuyết tật tại khâu kiểm tra cuối cùng (Defect rate at the final inspection)  

Tỷ lệ khuyết tật tại khâu kiểm tra cuối cùng có nghĩa là tỷ lệ phần trăm các thành phẩm khuyết tật trên tổng số sản phẩm được kiểm tra ở khâu cuối cùng trước khi giao hàng.  

Việc kiểm soát tỷ số này rất quan trọng vì tỷ lệ khuyết tật cao sẽ dẫn đến:  

1. Số lượng sản phẩm cần thiết không được đảm bảo;  

2. Lợi nhuận bị giảm  

3. Thậm chí nếu các sản phẩm khuyết tật có thể khắc phục được bằng cách sửa chữa thì vẫn mất thêm chi phí và thời gian, do đó tổng chi phí sản xuất sẽ tăng lên.  

4. Sản phẩm khuyết tật sẽ dẫn đến khách hàng không hài lòng, do đó có ảnh hưởng xấu đến việc kinh doanh.  

5.3. Sản phẩm lỗi có thể gây tác hại đến người sử dụng.  

Dữ liệu về xử lý khiếu nại của khách hàng (Data of customer complaints handling)  

Dữ liệu về khiếu nại của khách hàng, nguyên nhân và giải pháp khắc phục tránh tái diễn. Thậm chí nếu nhà sản xuất đã đảm bảo về chất lượng nhưng nếu khách hàng không hài lòng thì sản phẩm vẫn không thể bán được. Do vậy, dữ liệu về khiếu nại của khách hàng là các thông tin cơ bản về chất lượng sản phẩm cũng như về hiệu quả quản lý của chính công ty.  

5.4 áp dụng KAIZEN cho cải tiến chất lượng (KAIZEN for quality improve)  

Các hoạt động cải tiến liên tục với sự tham gia của mọi người để cải tiến chất lượng sản phẩm.  

Hoạt động này là cần thiết để duy trì việc cải tiến liên tục chất lượng nhằm thỏa mãn khách hàng, công ty đảm bảo được sản phẩm cung cấp cho khách hàng đạt chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, hơn nữa việc sản xuất sản phẩm chất lượng tốt giúp làm giảm chi phí sản xuất bằng cách giảm chi phí nguyên vật liệu, chi phí kiểm tra và chi phí làm lại.  

5.5 Kiểm soát trực quan (Visual control)  

Kiểm soát trực quan là phương pháp mà qua đó các điều kiện sản xuất (như sản xuất đúng theo kế hoạch hay bị trì hoãn, chất lượng sản phẩm tốt hay xấu,…) có thể được đánh giá ngay lập tức bằng quan sát.  

Thông thường, những trường hợp bất thường tại nơi làm việc hay bị bỏ qua và dẫn đến các vấn đề lớn, thông qua kiểm soát trực quan, tất cả mọi người có thể phát hiện được ngay trường hợp bất thường và có những biện pháp đối phó cần thiết.  

6. Tài chính  

6.1 Dòng tiền hàng tháng (Monthly cash flow)  

Việc đánh giá sẽ thể hiện được, đối với dòng tiền hàng tháng, công ty quản lý tốt hoặc không tốt, có xây dựng hệ thống quản lý đối với nó hay không.  

Cán bộ điều hành cần phải kiểm tra dòng tiền hàng tháng để đảm bảo rằng dòng tiền của công ty không có vấn đề. Phương pháp này gọi là quản lý dòng tiền.  

Báo cáo dòng tiền sẽ cung cấp các câu trả lời quan trọng về (1) Nguồn tiền trong giai đoạn báo cáo? (2) Tiền được sử dụng vào hoạt động gì? (3) Có sự thay đổi gì về cân đối dòng tiền trong giai đoạn này?.  

Mục đích chính của báo cáo dòng tiền là cung cấp các thông tin về tiền mặt vào/ra công ty trong giai đoạn báo cáo. Để đạt được mục đích này, báo cáo dòng tiền cần có (1) ảnh hưởng của tiền mặt tới các hoạt động, (2) các giao dịch đầu tư, (3) các giao dịch tài chính, (4) lợi nhuận tăng hay giảm bằng tiền mặt trong giai đoạn báo cáo.  

6.2 Xác nhận doanh thu và chi phí hàng tháng (Confirmation of monthly income and expenditure)  

Cán bộ điều hành cần phải kiểm tra doanh thu và chi phí hàng ngày và quản lý dòng tiền để đảm bảo công ty không có vấn đề về dòng tiền. Phương pháp này gọi là quản lý dòng tiền tháng.  

Nếu bạn là chủ doanh nghiệp, mục tiêu việc kinh doanh của bạn là thu được nhiều tiền/lợi nhuận. Lợi nhuận được tính là: Doanh thu – Chi phí. Doanh thu và chi phí hàng tháng là số liệu cơ sở của việc kinh doanh của bạn  

6.3 Kế hoạch ngân sách (Budget plans)  

Kế hoạch ngân sách chỉ ra kế hoạch ngắn hạn để tạo lợi nhuận. Nó cũng quan trọng để so sánh kết quả đạt được với kế hoạch  

Lập kế hoạch ngân sách là quan trong vì qua đó:  

Xác định được mục tiêu phấn đấu  

Dự báo được sản phẩm, doanh thu, chi phí căn cứ trên các dữ liệu thu thập từ thị trường và phân tích dữ liệu qua các năm trước  

Xác định được lượng vốn và nguồn vốn  

Trình bày và giải thích để tìm kiếm sự hỗ trợ và tham gia  

6.4 Điểm hoà vốn (Break even point)  

Dựa trên thông tin về điểm hoà vốn để hiểu bản chất của lợi nhuận, cũng như hiểu rõ hơn về chi phí, cho phép công ty lựa chọn được phương án sản xuất: Tự sản xuất hay thuê ngoài.  

Với mục tiêu là lợi nhuận. Để xác định được mục tiêu cần biết được doanh số bán cần đạt đến mức độ nào thì công ty sẽ có được một khoản lãi và ở mức nào công ty sẽ bị lỗ. Đó là hai con số về doanh thu cần làm rõ. Sau khi lập ra mục tiêu, thì có thể đưa vào kế hoạch kinh doanh, trong đó đề cập tới điểm hoà vốn và giải thích rõ điểm hoà vốn này cho nhân viên. Doanh số bán hàng cần phải đạt được là bao nhiêu để có thể có lợi nhuận? câu hỏi này là câu hỏi đầu tiên và cũng là câu hỏi cuối cùng.  

6.5 Doanh thu và chi phí hàng tháng (Monthly sales & monthly expenses)  

Với mục tiêu lợi nhuận cũng cần phải kiểm tra lại hoạt động trong tháng – doanh thu, chi phí, chi tiêu hàng tháng, bao gồm các chi phí về marketing và hành chính. 

6.6 Nguồn vốn (Source of funding)  

Trong điều hành công việc kinh doanh, thu nhập của doanh nghiệp thường nhận được từ doanh thu sau khi đã chi trả hết các khoản chi tiêu. Như vậy thời điểm thu nhập từ doanh thu và thời điểm chi tiêu là hai khoảng thời gian khác nhau. Bạn phải có giải pháp để giảm thiểu khoảng cách của sự khác nhau này. Việc xác định nguồn vốn là cần thiết để chủ động được vốn trong kinh doanh.  

6.7 Chi tiết tài sản thế chấp (Detail of mortgaged asset)  

Thông tin này được yêu cầu khi xin vay ngân hàng. Mức độ thế chấp nhỏ là hợp lý. Nếu cần thiết, cần phải lựa chọn theo năng lực của công ty. Khi phát triển thuận lợi, công ty cần có thêm các khoản ngân quĩ. Trong trường hợp vay vốn từ ngân hàng, ngân hàng cũng sẽ đòi hỏi một sự bảo đảm đề phòng không trả được các khoản vay. Thông thường ngân hàng yêu cầu doanh nghiệp có tài sản thế chấp để đảm bảo.  

6.8 Sử dụng phương pháp được chuẩn hoá trong kế toán (Bookkeeping and accounting using a standardized method)  

Phương pháp thể hiện ở ba mức:  

Sử dụng phương pháp kế toán truyền thống  

Chuẩn bị báo cáo như bản cân đối kế toán, báo cáo lợi nhuận/chi phí mà không dùng máy vi tính.  

Chuẩn bị báo cáo như bản cân đối kế toán, báo cáo lợi nhuận/chi phí theo phương pháp chuẩn, có sử dụng máy vi tính

Sử dụng một công cụ được chuẩn hoá để thực hiện công việc dễ dàng hơn. Mặc dù các nhân viên đều hiểu cách ghi chép các giao dịch hàng ngày bằng một phương pháp có hệ thống. Sau đó ngân hàng hoặc cơ quan thuế của chính phủ sẽ yêu cầu bản báo cáo tài chính, bản báo cáo sẽ được thực hiện bởi một phương pháp được chuẩn hoá trong kế toán. Kế toán là một hoạt động cơ bản để chuẩn bị báo cáo tài chính về hoạt động của doanh nghiệp.





Phân tích S.W.O.T tình hình ngành Dược tại Việt Nam

12 08 2011


Phân tích SWOT ngành Dược Việt Nam

STRONGS

  • Tiềm năng tăng  trưởng về dân số 88 triệu người/2009 và sẽ tăng lên 100 triệu người vào năm 2019.
  • Cam kết của Chính phủ về các chính sách hỗ trợ về y tế.
  • Thị trường thuốc Generic đang được chính phủ khuyến khích phát triển tối đa.
  • Tập trung đẩy mạnh phát triển công nghệ mới,phát triển mạnh các loại thuốc có tiềm năng đạt thị phần lớn trong nước đi theo hướng thuốc OTC để đẩy mạnh khả năng sử dụng sản phẩm rộng rãi hơn.

WEAKNESSES

  • Một trong những quốc gia Châu Á có thị trường phát triển thấp,bình quân đầu người chi tiêu cho dược phẩm thấp.
  • Thuốc giả chiếm số lượng khá lớn đang lưu hành trong thị trường.
  • Sự lẫn lộn và bối rối trong chính sách phân biệt rõ ràng giữa thuốc kê toa (ETC) và không kê toa (OTC) cho một loại thuốc riêng biệt.
  • Chính sách giá thuốc bất cập và có xu hướng thiên vị cho các nhà sản xuất trong nước.
  • Nguyên phụ liệu đa số nhập khẩu và các công ty thường gia công sản phẩm,thiếu một quy trình cung ứng và sản xuất dược phẩm liên tục.Điều này dễ ảnh hưởng đến giá thuốc khi có biến động về tỉ giá hối đoái từ nước ngoài.
  • Kém phát triển trong việc đào tạo nguồn nhân lực chăm sóc sức khoẻ  về đào đạo dược sĩ theo  hướng chuyên môn nhất định để tăng khả năng tiếp xúc với các phương tiện sản xuất và cải tiến sản phẩm để tạo lợi thế khi tham gia vào thị trường.
  • Dân số chủ yếu rải rác ở khu vực nông thôn hơn khu vực đô thị nên ngăn cản sự xâm nhập hỗ trợ của các loại thuốc mới và phụ thuộc khá nhiều vào các thuốc truyền thống.

OPPORTUNITIES

  • Việc gia nhập ASEAN và hỗ trợ  áp dụng những tiêu chuẩn sản xuất thuốc theo hướng dẫn của nước ngoài từ tổ chức WHO và ICH.
  • Giới thiệu về việc bảo hộ độc quyền những nghiên cứu lâm sàng có giá trị 5 năm khuyến khích sự đầu tư từ các công ty  Dược phẩm đa quốc gia.
  • Áp dụng GMP cho các công ty còn lại trong nước giúp thuốc sản xuất đạt tiêu chuẩn để tham gia xuất khẩu,áp dụng những công nghệ mới từ nước ngoài,đặc biệt về các sản phẩm dược sinh học.
  • Khi gia nhập hoàn chỉnh WTO,trong dài hạn sẽ cải thiện môi trường kinh doanh,khắc phục những yếu kém đang gặp phải về thương mại dược phẩm.

THREATS

  • Chính phủ đang xem xét và chống lại việc tham gia vào luật bảo vệ bản quyền chung của quốc tế,điều này làm ngăn cản sự mở rộng hoạt động đa quốc gia khi tham gia sân chơi chung.
  • Cần giải quyết các vấn đề về năng lượng cung cấp (điện) và cải thiện chất lượng giáo dục đại học để tạo sự tin tưởng cho quỹ FDI hỗ trợ nguồn vốn đầu tư  cho Việt Nam trong tương lai.
  • Hợp pháp hoá nhập khẩu song song mang lại tác động tiêu cực cho các thuốc còn bảo vệ bản quyền.
  • Việt Nam kinh tế ngày càng trở nên mỏng manh, dễ bị ảnh hưởng bởi các biến động về kinh tế từ bên ngoài do Nhập siêu.
  • Chính sách mới về bảo hiểm làm giảm khả năng tiếp cận và sử dụng thuốc của bệnh nhân.

THỊ TRƯỜNG DƯỢC PHẨM VIỆT NAM

PR hiệu quả cho doanh nghiệp DượcVì những yếu tố tiêu cực tác động (như thị trường thuốc giả hoạt động,chính sách kém về luật bảo hộ bản quyền trí tuệ khiến các doanh nghiệp nước ngoài không thể gia nhập thị trường,vv…) nên thị trường tiêu dùng dược phẩm năm nay chiếm khoảng 1,7% GDP  và sẽ là 2% trong khoảng 2014.Việc WHO khuyến khích các doanh nghiệp trong nước sản xuất theo mô hình GMP đồng thời gia nhập WTO sẽ giúp ích cho việc chuẩn hoá các thuốc thành phẩm khi sản xuất đồng thời giảm thiểu  được tối đa các loại thuốc giả được sản xuất trong nước và tạo điều kiện cho thuốc thành phẩm tại VN có cơ hội xuất khẩu sang các nước khác.

Thuốc ETC vẫn tiếp tục phát triển,chủ yếu theo xu hướng phục vụ cho các loại bệnh mãn tính như tiểu đường,tim mạch,COPD,vv….Thị trường thuốc OTC cũng được khuyến khích đẩy mạnh phát triển tuy nhiên số liệu vẫn còn lùng nhùng vì chính sách phân biệt lẫn lộn giữa thuốc OTC và ETC của VN.
Thị  trường sản xuất thuốc trong nước hiện nay  đáp ứng khoảng 60% nhu cầu sử dụng thuốc của người dân năm.Hiện nay đã có hơn 10000 loại thuốc được đăng kí từ Bộ Y tế,trong đó có khoảng 60% được sản xuất tại VN.Thị trường thuốc sản xuất theo hướng truyền thống (thuốc đông tây y kết hợp) đang được chú ý và phát triên trong khoảng thời gian gần đây tuy nhiên vẫn còn bị hạn chế khá nhiều do quá trình hội nhập WTO.

Quảng cáo Dược phẩm tại Việt Nam:
Thuốc ETC bị giới hạn khá nhiều trong việc quảng bá sản phẩm,chủ yếu thông qua các hình thức hội thảo,tham dự hội nghị,và các tài liệu quảng cáo đều phải thông qua sự chấp nhận của Bộ Y Tế.
Thuốc OTC được chấp nhận dễ dàng hơn khi quảng cáo trên kênh truyền thông đại chúng,brochure,và các phương tiện truyền thông khác như báo, tạp chí, outlet, …

Thị trường thuốc giả:
Chiếm khoảng 0.09% trêng hơn 17000 loại thuốc hiện đang lưu hành tại VN theo số liệu điều tra của Bộ Y Tế từ năm 2005.Sự bất cập yếu kém về quản lí thuốc tại VN khiến thuốc giả vẫn có cơ hội lách luật để tồn tại trong thị trường.Hằng năm thị trường thuốc giả thu lợi nhuận  khoảng 450 triệu $.Các thuốc này đa số được vận chuyển từ Trung Quốc,Campuchia,Lào,Ấn Độ do quản lí yếu kém của hải quan,đi vào các nhà thuốc chưa đạt tiêu chuẩn GMP hiện hành và các thị trường chợ đen khác.

Bộ Y Tế thông báo có khoảng hơn 500 loại thuốc y học cổ truyền đang lưu hành tại VN trong hơn 1500 phòng khoám y học cổ truyền,đặc biệt là thành phố HCM,khu vục phố Tàu thuộc Quận 5.Trong đó,chỉ có 50 loại được đăng kí lưu hành hợp pháp. Tháng 2/2010,BTY báo cáo đã bắt giám đốc công ty Pháp-Việt về việc cho lưu hành các sản phẩm thuốc giả được sản xuất tại VN nhưng khi đóng hộp được dán mác thuốc nhập khẩu.

Hệ Thống bảo hiểm:
Đầu năm 2010,chính phủ thông qua một bộ luật mới về chính sách bảo hiểm áp dụng toàn dân.Chính sách mới này khiến rất nhiều người nghèo và không có khả năng chi trả chi phí điều trị chịu thiệt thòi.Chính sách quy định,những người thuộc nhóm dân tộc thiểu số,những người từng có công với Cách Mạng sẽ phải trả 5% chi phí điều trị khi chi phí này vượt quá 97500VND.Dưới mức phí đó,chi phí sẽ được hỗ trợ miễn phí.Học Sinh và nhân viên ai không mua bảo hiểm sẽ phải tự trả 20% chi phí điều trị.Ước tính có khoảng 90% Bệnh nhân tham gia trả phí khi điều trị.

Bên cạnh đó chính sách về bảo hiểm dành cho trẻ em cũng thay đổi,chi phí điều trị bằng các loại thuốc mắc tiền hoặc can thiệp phẩu thuật tim,cha mẹ bệnh nhi cũng phải tham gia trả phí.Bảo hiểm chi chi trả chi phí tối đa 29,2 triệu VND cho những trường hợp như vậy.

Vào tháng 3/2010 BYT ban hành chính sách hỗ trợ  miễn phí điều trị cho trẻ em dưới 6 tuổi áp dụng cho tất cả trẻ emở VN.Bên cạnh đó BYT hỗ trợ thêm khoảng 600 loại thuốc khác cho bệnh nhân như nhóm thuốc tim mạch,huyết áp,ung thư,tiêu chảy,thuốc hướng tâm thần được hỗ trợ từ quỹ bảo hiểm sức khoẻ quốc gia  phân phối đến khắp các trạm y tế và bệnh viện

(DINH DO WordPress – Thống kê theo báo cáo từ BNI)





Quản lý hiệu quả cùng mô hình SWOT, STEEPLE và PLC

12 08 2011

quan ly hieu qua cung mo hinh SWOT Quản lý hiệu quả cùng mô hình SWOT, STEEPLE và PLCThuật ngữ SWOT này đã khá quen thuộc với giới kinh doanh, nó là từ viết tắt của 4 yếu tố: strengths (S) – điểm mạnh, weaknesses (W) – điểm yếu, và các nhân tố tác động bên ngoài như thời cơ (opportunities – O) hay mối nguy hại (threats – T).

STEEPLE lấy từ chữ cái đầu của các từ tiếng anh khi chuyển nghĩa sang tiếng Việt có nghĩa là: văn hoá – xã hội, công nghệ, kinh tế, môi trường, chính trị, kinh doanh điện tử và khung pháp lý.

Và cuối cùng là khuôn mẫu PLC: Product Life Cycles: vòng đời sản phẩm.

Bản phân tích SWOT đóng vai trò rất quan trọng trong việc bắt kịp những chiến lược vì công việc kinh doanh đã được lên kế hoạch. Ví như, nắm rõ được những mối nguy hại cho doanh nghiệp: biết sớm được mối cạnh tranh có thể giúp doanh nghiệp tháo gỡ được nó tốt hơn. Điều này có thể được tiến hành bằng việc quảng bá những ưu điểm của sản phẩm và làm mờ đi những khuyết điểm. Bản phân tích SWOT cũng có thể giúp công ty chuẩn bị sẵn sàng các nguồn lực và khả năng với mưu đồ cạnh tranh của đối thủ.

Bản phân tích STEEPLE mở ra cho doanh nghiệp những xu hướng tương lai có thể đoán trước. Điều này giúp doanh nghiệp xác định được những yếu tố có khả năng ảnh hưởng tới công việc kinh doanh trong những năm tới.

Nhân tố văn hoá – xã hội có thể bao gồm yếu tốt địa lý dân số, phân bổ thu nhập, thay đổi phong cách sống, trình độ giáo dục. Nhân tố công nghệ là việc nghiên cứu, phát triển những công nghệ mới, chuyển đổi cơ chế công nghệ. Nhân tố môi trường liên quan đến các đạo luật bảo vệ môi trường, các chính sách môi trường của các nhà chức trách địa phương. Còn nhân tố kinh tế bao gồm các chu kì phát triển kinh doanh, các xu hướng tổng sản phẩm quốc dân, tỉ lệ lãi suất, lạm phát, thất nghiệp, thu nhập.

Nhân tố chính trị là sự ổn định của chính phủ, các điều lệ thương mại quốc tế, chính sách thuế. Nhân tố luật pháp bao gồm hệ thống pháp luật độc quyền, các luật lệ làm việc và luật liên quan đến phân biệt đối xử. Nhân tố đạo đức gắn liền với những chuẩn mực đạo đức, tinh thần quản lý các chính sách và điều lệ của doanh nghiệp. Bản phân tích STEEPLE vạch rõ những vấn đề mấu chốt tác động đến công ty và những vấn đề này sẽ tác động tới các chiến lược kinh doanh như thế nào.

Mô hình PLC gắn với chu kỳ dòng sản phẩm trên thị trường. Mỗi sản phẩm đều có một “vòng đời” giống như một cơ quan sống, sản phẩm sẽ phát triển và trưởng thành rồi suy thoái. Các giai đoạn phát triển của sản phẩm được gọi là “vòng đời hay chu kì sản phẩm” được chia làm 5 thời kỳ: Phát triển sản phẩm, giới thiệu, tăng trưởng, trưởng thành và suy thoái.

  1. Phát triển sản phẩm: công ty đã chi tiêu một khoản không nhỏ cho việc phát triển và nghiên cứu sản phẩm trong giai đoạn này.
  2. Giai đoạn giới thiệu sản phẩm: vì tên sản phẩm vẫn còn chưa được nhiều người biết đến, cho nên sản phẩm giai đoạn này hoàn toàn mới và cần bắt đầu được tung ra thị trường.
  3. Giai đoạn tăng trưởng: là khi công ty bắt đầu sản xuất thêm nhiều sản phẩm và đạt được đà bán hàng tốt.
  4. Giai đoạn trưởng thành: sản phẩm đang trên đường của giai đoạn chín muồi. Đó là giai đoạn không cần nhiều cho việc khuyếch trương sản phẩm để tăng doanh thu. Nhưng việc quảng bá sản phẩm sẽ không dừng lại khi có nhiều nhà cạnh tranh sẽ “hớt tay trên” mất vị trí dẫn đầu.
  5. Giai đoạn suy thoái: do số lượng đối thủ cạnh tranh trên thị trường tăng lên, việc cạnh tranh càng khốc liệt hơn trước. Thị phần sản phẩm bị thu hẹp.

Sản phẩm có vòng đời hạn chế, nó có thể trải qua rất nhiều giai đoạn với nhiều thách thức và thời cơ để kinh doanh. Chu kì sản phẩm có thể giúp doanh nghiệp xác lập rõ những tiềm năng tăng trưởng của sản phẩm. Cụ thể hơn, nó có thể tiến xa trên thị trường hoặc “chết”. Nó có thể đạt tới mức ổn định hay tiếp tục phát triển hay không là phụ thuộc vào nhu cầu đối với sản phẩm đó.

PLC là mô hình khá hữu dụng đối với các nhà quản lý với mục đích làm cho họ luôn không thoả mãn với những chiến lược quản lý và quảng bá sản phẩm của chính mình, giữ cho sản phẩm không ngừng tiến triển để đáp ứng khả năng thưởng thức cũng không ngừng đổi thay của khách hàng.

Trên đây là ba mô hình và khung chiến lược – công cụ không thể thiếu trong quản lý để củng cố, tăng cường vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.

Theo Strategic Business Planning








Follow

Get every new post delivered to your Inbox.