Ngoại ngữ giúp con người thay đổi tính cách

23 11 2008

Những người biết ít nhất một ngoại ngữ cảm thấy cá tính
và cách nhìn nhận sự việc của họ khác đi khi chuyển đổi từ ngôn ngữ này
sang thứ tiếng khác.

Nhiều nghiên cứu trước đây chứng minh rằng cách nhìn
nhận sự kiện và thể hiện cảm xúc của con người sẽ khác đi khi họ không
nói tiếng mẹ đẻ. Từ kết quả đó, nhiều nhà khoa học cho rằng những người
thành thạo ít nhất một ngoại ngữ có thể thay đổi nhân cách trong chớp
mắt bằng cách chuyển đổi ngôn ngữ.

Để tìm hiểu vấn đề này, các chuyên gia từ Đại học
Baruch (New York, Mỹ) và Đại học Wisconsin-Milwaukee (Mỹ) tiến hành thử
nghiệm với nhiều tình nguyện viên thông thạo tiếng Anh và Tây Ban Nha.
Nhóm nghiên cứu yêu cầu các tình nguyện viên xem những đoạn phim quảng
cáo bằng tiếng Tây Ban Nha, trong đó mô tả nhiều phụ nữ trong các tình
huống khác nhau. 6 tháng sau, các tình nguyện viên được xem lại đoạn
phim, nhưng lần này ngôn ngữ trong phim là tiếng Anh.

Ảnh: berkeleyedu.

Sau đó, các chuyên gia yêu cầu tình nguyện viên tự
đánh giá bản thân và nêu quan điểm của họ về những người phụ nữ trong
phim quảng cáo.

Kết quả cho thấy, khi xem phiên bản tiếng Tây Ban
Nha, tình nguyện viên cảm thấy mạnh mẽ và quyết đoán hơn. Họ cũng thấy
những người phụ nữ trong phim hướng ngoại và độc lập hơn.

“Khi xem một đoạn phim tiếng Tây Ban Nha, đa số tình
nguyện viên thấy nhân vật nữ là người ưa mạo hiểm, cởi mở và lạc quan.
Nhưng khi xem phiên bản tiếng Anh, họ thấy người phụ nữ ấy cô đơn, bi
quan và thụ động trong cuộc sống”, David Luna, chuyên gia của Đại học
Baruch, cho biết.

Việt Linh (theo Newscientist)

ShowArticlebanner();





Người yêu bản thân dễ thành lãnh đạo

23 11 2008

Một nghiên cứu cho thấy, khi một nhóm không có người ra
quyết định, những cá nhân mắc hội chứng yêu quý bản thân sẽ tìm mọi
cách để trở thành người dẫn dắt nhóm. Điều thú vị là họ thường thành
công trong phần lớn trường hợp.

Theo các chuyên gia tâm lý của Đại học Ohio (Mỹ),
những người mắc hội chứng tự yêu mình thường thích quyền lực, hay khoác
lác về năng lực bản thân, dành quá nhiều thời gian để nghĩ về mình nên
hiếm khi quan tâm tới suy nghĩ, cảm xúc của người khác. Tuy nhiên, sự
tự tin quá mức không đồng nghĩa với việc họ ra quyết định sáng suốt và
đúng lúc hơn so với người khác.

Hội chứng yêu bản thân quá mức không giống với tự
trọng. “Một người có lòng tự trọng cao luôn tự tin và hấp dẫn, nhưng họ
thích xây dựng mối quan hệ thân tình với những người xung quanh. Người
yêu bản thân thích được chú ý nhưng lại chẳng bao giờ nghĩ người khác”,
Amy Brunell, tiến sĩ tâm lý của Đại học Ohio (Mỹ), phát biểu.

3 thử nghiệm của Amy và cộng sự cho thấy những tính cách trên không tạo nên một người ra quyết định sáng suốt.

Trong thử nghiệm đầu tiên, 432 sinh viên được yêu cầu
trả lời những câu hỏi về tính cách cá nhân trong một phiếu điều tra.
Sau đó, họ được xếp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm 4 người. Các nhà nghiên
cứu đặt vấn đề: Giả sử mỗi nhóm là một ủy ban cao cấp đại diện cho sinh
viên trong cả nước Mỹ. Nhiệm vụ của ủy ban là bầu ra giám đốc điều hành
của nhiệm kỳ sau.

Kết quả cho thấy những sinh viên thích quyền lực muốn
được bầu làm giám đốc điều hành. Họ có xu hướng dẫn dắt cuộc thảo luận
trong nhóm và những thành viên còn lại cũng coi họ là nhà lãnh đạo tiềm
năng.

Trong một nhóm không có người dẫn dắt, những người tự yêu bản thân luôn muốn nắm vai trò lãnh đạo.
Trong một nhóm không có người dẫn dắt, những người tự yêu bản thân luôn muốn nắm vai trò lãnh đạo. Ảnh: corbis.com.

Trong nghiên cứu thứ hai, những sinh viên ở thử
nghiệm trên được chia thành những nhóm 4 người. Họ phải tưởng tượng
rằng họ cùng đi trên một tàu biển và con tàu sắp đắm. Mỗi người chỉ
được chọn 15 đồ vật trên tàu trước khi xuống thuyền cứu sinh để bơi vào
một đảo hoang gần nơi tàu đắm. Các nhóm phải thảo luận xem nên chọn
những đồ vật nào để có thể sinh tồn trên đảo hoang.

Qua quan sát, nhóm nghiên cứu nhận thấy những người
tự yêu mình vẫn nắm vai trò dẫn dắt quá trình thảo luận của nhóm. Vai
trò lãnh đạo của họ được các thành viên khác chấp nhận một cách vô thức.

Để đánh giá khả năng lãnh đạo của các tình nguyện
viên, nhóm nghiên cứu so sánh 15 vật mà họ chọn với 15 vật mà một sĩ
quan đặc nhiệm của quân đội Mỹ chuẩn bị trước khi tới nơi không có
người ở. Kết quả cho thấy người yêu bản thân không tỏ ra xuất sắc hơn
những người khác trong việc lựa chọn đồ vật cần thiết cho sự sinh tồn.

Trong thử nghiệm thứ ba, nhóm nghiên cứu tuyển 150
tình nguyện viên đang tham gia khóa học thạc sĩ quản trị kinh doanh tại
một trường đại học. Đầu tiên các chuyên gia yêu cầu họ trả lời các câu
hỏi về tính cách cá nhân. Sau đó, các tình nguyện viên được chia thành
những nhóm 4 người. Mỗi nhóm phải tưởng tượng rằng họ là ban giám hiệu
của một trường và nhiệm vụ của họ là phân bổ khoản tiền đóng góp khổng
lồ của một công ty.

Kết quả cho thấy những học viên thuộc nhóm tự yêu bản
thân tỏ ra sôi nổi hơn người khác trong các cuộc thảo luận và họ luôn
ra quyết định cuối cùng để “chốt” quá trình tranh luận. Đa số quyết
định của họ được chấp nhận.

Nhiều nghiên cứu cho thấy những người tự tin thái quá
thường tỏ ra mạo hiểm nhưng lại không kiên định trong việc ra quyết
định. Amy Brunell nói thêm rằng những người mắc hội chứng này thích trở
thành chính trị gia vì thích quyền lực, nhưng nhiều người lại muốn trở
thành nhà đầu tư chứng khoán vì thích mạo hiểm.

Việt Linh (theo Physorg)





Bí ẩn những người vô cảm

23 11 2008
Cảm xúc cũng có vai trò sống còn. Ảnh: rateyourmusic.com.

Elliot
Smith từng là một doanh nhân thành đạt, nhưng cuộc phẫu thuật khối u
trán đã biến ông thành người khác. Ông chẳng buồn bước xuống giường nếu
không có người giục. Để thu dọn bàn làm việc, ông phải mất hàng giờ
nghĩ xem phân loại giấy tờ theo nguyên tắc nào.

Lý trí đã từ lâu được xem là thành tựu cao nhất của
con người, ngược lại tình cảm lại bị coi rẻ như là ngu ngốc và không
tin cậy được. Nhưng mới đây, các nhà nghiên cứu não nhận ra rằng xúc
cảm cũng có trí tuệ riêng của nó – và có tầm quan trọng sống còn.

Elliot Smith từng là một doanh nhân thành đạt, nhưng
một ngày nào đó cuộc sống của ông thay đổi hoàn toàn. Nó bắt đầu với
những cơn nhức đầu và khó khăn trong tập trung tư tưởng, ngày càng trầm
trọng thêm. Bác sĩ phát hiện trong đầu ông, ngay sau trán, có một khối
u ung thư. Các nhà giải phẫu cắt đi khối u cũng như một phần của thùy
trán, phần phía trước của vỏ não.

Ban đầu, lần giải phẫu này dường như đã thành công.
Thế nhưng chẳng bao lâu sau đó người ta nhận thấy rằng Smith không còn
như xưa nữa. Điều đó bắt đầu ngay từ buổi sáng: Ông chẳng buồn bước
xuống giường, người ta phải hối thúc ông. Định thu dọn bàn làm việc,
ông có thể trầm tư suy nghĩ hằng giờ rằng nên phân loại giấy tờ theo
nguyên tắc nào. Ông bị cho thôi việc. Hôn nhân đổ vỡ. Cuối cùng ông lẫn
lộn bất lực trong cuộc sống và phải được anh chị em chăm sóc.

Nhà thần kinh học Antonio R. Damasio biết đến người
bệnh vào thời gian đó. Ông Elliot Smith không hề có bất cứ vấn đề nào
về trí nhớ, vị bác sĩ khẳng định, và trí thông minh của ông cũng trên
mức trung bình. Chỉ sau nhiều lần nói chuyện và khám nghiệm nhà thần
kinh học mới biết rằng ông Smith không phải thiếu trí thông minh hay
kiến thức mà thiếu một thứ khác, và đó có thể là nguyên nhân cho thái
độ cư xử phi lý của ông: Người đàn ông này vô cảm.

Cảm xúc là một dạng “la bàn”

Tình cảm, trong văn hóa phương Tây, không được đánh
giá cao. Từ Platon qua Aristoteles cho đến những người của thời kỳ sau
này, lý trí luôn được xem là vượt trội – ngược lại, tình cảm bị coi rẻ
như là sơ đẳng, ngu ngốc, thú vật, không thể tin cậy được và nguy hiểm.

Trong vòng 20 năm vừa qua, sự đánh giá tình cảm này
đã trải qua một biến đổi sâu sắc. Các nhà thần kinh học hiện đã kết
luận rằng tình cảm không phải ngu ngốc và sơ đẳng mà có trí tuệ dưới
hình thức riêng của nó. Chúng ta sẽ không hoàn hảo nếu như không có
chúng. Hay nói ngắn gọn hơn: Không có cảm xúc thì con người không phải
là con người.

Cảm xúc của chúng ta, như trường hợp của Smith đã chỉ
ra, giống như một cái la bàn. Chúng chỉ cho ta phải cư xử theo hướng
nào. Chúng cho ta cảm nhận được cái gì là tốt và cái gì là xấu cho
chúng ta, và dẫn chúng ta đi trong cuộc sống.

Cảm xúc tạo khả năng cho chúng ta sống còn. Vì nếu
khác đi, tổ tiên của chúng ta đã khó có thể sống còn được. Đặc biệt là
các cảm xúc không dễ chịu như sợ hãi, ghê tởm hay đau đớn. Sợ hãi làm
cho chúng ta cảnh giác với những mối nguy hiểm, ghê tởm nhắc nhở đến vệ
sinh và cảnh báo thực phẩm đã thiu thối tức có thể bị ngộ độc; đau đớn
làm cho chúng ta phải chăm sóc vết thương hay tránh không bị thương
ngay từ đầu.

Thường chúng ta chỉ nhận thức được chức năng bảo vệ,
cứu sống của cảm xúc khi chúng bất thình lình không tồn tại nữa. Thí dụ
như bà Barbara Miller vì một bệnh di truyền mà không hề biết lo sợ. Bà
lúc nào cũng vui vẻ và sốt sắng, ngay với người hoàn toàn xa lạ và vì
thế thường hay bị lợi dụng. Bà Miller mất tính hoài nghi – đức tính giữ
cho chúng ta không hoàn toàn tin tưởng vào tất cả mọi người xa lạ.

Cảm xúc đảm nhận một
chức năng quan trọng sống còn, đã từ lâu người ta không còn hoài nghi
về điều này nữa – nhưng như thế nào thì vẫn còn là câu đố.

Các nhà khoa học chỉ biết rõ là không có một trung tâm nhất định cho
cảm xúc, tình cảm của chúng ta được tạo nên bởi nhiều mạng lưới tế bào
thần kinh phức tạp.

Được khám nghiệm tốt nhất là cảm tính sợ hãi. Nhà
nghiên cứu não người Mỹ Joseph E. LeDoux đã khám phá được 2 “con đường
sợ hãi” trong đầu. Một đường rất nhanh nhưng không chính xác, chủ yếu
thông qua tiềm thức. Nó làm cho chúng ta giật bắn người và lùi lại khi
gặp một vật giống như một con rắn trên đường đi. Thông tin của thị giác
được truyền qua vùng não thalamus về hạch hạnh nhân, nơi tiết hoóc môn
gây stress như adrenaline đặt cơ thể vào tình trạng báo động.

Đồng thời, vùng thalamus gửi thông tin thị giác qua
một đường thứ hai về phần vỏ não thị giác, nơi phân tích có ý thức hình
ảnh một cách chính xác hơn – nhưng cần thời gian lâu hơn. Nếu như xác
định đấy chỉ là một cành cây, vỏ não sẽ thông báo đến hạch hạnh nhân để
chấm dứt báo động.

Thí dụ về con rắn chỉ ra cho chúng ta thấy cảm xúc là
gì và chúng “hoạt động” như thế nào. Như vậy, không chỉ những gì chúng
ta suy nghĩ, mà cảm xúc cũng đóng vai trò quyết định với sự sống còn.

Hội chứng bí ẩn mang tên Cotard

Những người mắc phải hội chứng này tin rằng mình đã
chết. Thỉnh thoảng họ lại lấy làm ngạc nhiên rằng tại sao mình chưa
được chôn cất. Nguyên nhân gây ra hội chứng vẫn còn chưa rõ nhưng người
ta phỏng đoán rằng ở các bệnh nhân này sự cảm nhận qua giác quan đã bị
cắt lìa khỏi sự đánh giá cảm xúc trong não.

Hậu quả: Không có gì trên thế giới này, không một sự
kiện, không một va chạm tiếp xúc, không một loại âm nhạc nào còn có bất
kỳ một ý nghĩa về cảm xúc cho họ nữa. Họ không còn sống trải nghiệm nữa
mà chỉ ghi nhận. Các nhà tâm lý học cho rằng đó chỉ là một sự tưởng
tượng điên rồ, thế nhưng đối với những người mắc phải bệnh này thì sự
điên rồ đó là sự thật cay đắng: Ai bị cắt đứt ra khỏi thế giới tình
cảm, người đó bị cắt đứt ra khỏi cuộc sống.

Suy ngược lại thì điều đó có nghĩa là: Tôi cảm xúc, tức là tôi tồn tại.

Phan Ba (theo GEO Kompakt)